Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009, kinh tế thế giới bước vào giai đoạn suy thoái sâu rộng, kéo theo các bất ổn tài chính nghiêm trọng và khủng hoảng nợ công tại nhiều khu vực. Đối với Việt Nam, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng sau khi gia nhập WTO (2007) khiến nền kinh tế trong nước chịu tác động tiêu cực mạnh mẽ từ các cú sốc bên ngoài. Đồng thời, những bất cập nội tại tích tụ từ mô hình tăng trưởng cùng các chính sách nới lỏng tiền tệ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế giai đoạn 2008 – 2010 đã khiến kinh tế vĩ mô đối mặt với nhiều mất cân đối: lạm phát tăng vọt, thâm hụt ngân sách cao, nợ công gia tăng, thâm hụt cán cân vãng lai kéo dài và thị trường tài chính - tiền tệ căng thẳng thanh khoản. Trước tình hình đó, mục tiêu điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã có sự chuyển dịch trọng tâm từ ưu tiên tăng trưởng nhanh sang ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội.
Trong bối cảnh đó, khóa luận tốt nghiệp "Chính sách tiền tệ với việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế ở Việt Nam giai đoạn hậu khủng hoảng" của tác giả Giang Thị Duyên (ngành Ngân hàng, Học viện Ngân hàng, bảo vệ năm 2014 dưới sự hướng dẫn của ThS. Vũ Ngọc Hương) tập trung giải quyết 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về chính sách tiền tệ (CSTT), mục tiêu ổn định kinh tế tại Việt Nam và cơ chế phối hợp giữa CSTT với các chính sách kinh tế vĩ mô khác.
- Phân tích, đánh giá thực trạng và hiệu quả điều hành CSTT của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong giai đoạn hậu khủng hoảng (trọng tâm từ năm 2010 đến đầu năm 2014) đối với việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm.
- Đề xuất các quan điểm, định hướng và nhóm giải pháp kiến nghị đối với Quốc hội, Chính phủ và NHNN nhằm hoàn thiện các điều kiện hướng tới áp dụng khuôn khổ CSTT lạm phát mục tiêu linh hoạt trong giai đoạn tiếp theo.
Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung vào hệ thống CSTT, khuôn khổ lạm phát mục tiêu và thực tiễn điều hành CSTT tại Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2014, có mở rộng thu thập chuỗi số liệu thứ cấp đối chiếu từ năm 2000 đến 2013 trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các lý thuyết kinh tế học vĩ mô và luật định về ngân hàng trung ương (NHTW):
- Khái niệm và khuôn khổ CSTT: Trích dẫn Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12, xác định CSTT quốc gia là quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia nhằm mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền (biểu hiện qua chỉ tiêu lạm phát) và thúc đẩy tăng trưởng. Khung phân tích phân tách hệ thống mục tiêu thành: mục tiêu cuối cùng (ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế, công ăn việc làm đầy đủ), mục tiêu trung gian (tổng khối lượng tiền cung ứng M1, M2, M3; lãi suất thị trường; khối lượng tín dụng; tỷ giá) và mục tiêu hoạt động (giá cả tiền tệ/lãi suất liên ngân hàng; tiền cơ sở MB).
- Kênh truyền dẫn CSTT: Hệ thống hóa 3 kênh truyền dẫn chính:
- Kênh lãi suất (Keynes): $M \uparrow \Rightarrow i \downarrow \Rightarrow I \uparrow \Rightarrow Y \uparrow$.
- Kênh giá tài sản: Truyền dẫn qua tỷ giá ($M \uparrow \Rightarrow i \downarrow \Rightarrow \text{Tỷ giá} \uparrow \Rightarrow \text{Xuất khẩu ròng} \uparrow \Rightarrow Y \uparrow$), qua giá cổ phiếu theo Lý thuyết Q của Tobin ($M \uparrow \Rightarrow P_e \uparrow \Rightarrow Q \uparrow \Rightarrow I \uparrow \Rightarrow Y \uparrow$), và qua của cải/thu nhập thường xuyên ($M \uparrow \Rightarrow P_e \uparrow \Rightarrow \text{Tài sản} \uparrow \Rightarrow C \uparrow \Rightarrow Y \uparrow$).
- Kênh tín dụng: Kênh cho vay của ngân hàng thương mại ($M \uparrow \Rightarrow \text{Tiền gửi} \uparrow \Rightarrow \text{Tiền vay} \uparrow \Rightarrow I \uparrow \Rightarrow Y \uparrow$) và kênh bảng tổng kết tài sản (giảm rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch khi giá trị ròng doanh nghiệp tăng, cải thiện dòng tiền mặt).
- Công cụ điều hành: Phân chia thành công cụ trực tiếp (hạn mức tín dụng, ấn định lãi suất, tỷ giá) và công cụ gián tiếp (dự trữ bắt buộc - DTBB, tái cấp vốn/tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở - OMO).
- Mô hình phối hợp chính sách: Phân tích sự phối hợp giữa CSTT với chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tỷ giá dựa trên mô hình IS – LM và đường cong Phillips (ngắn hạn và dài hạn).
- Tiêu chí ổn định kinh tế vĩ mô: Đánh giá ổn định vĩ mô dựa trên lạm phát (CPI với ngưỡng tối ưu cho Việt Nam giai đoạn 1996 – 2012 là khoảng $6% \pm 2%$ theo nghiên cứu của Nguyễn Thạc Hoát năm 2013 và mốc 3% - 5% theo IMF năm 2006); tăng trưởng GDP thực tế; và các chỉ tiêu tài chính - tiền tệ (M2, tín dụng, lãi suất, thanh khoản ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu, thị trường ngoại hối, thị trường vàng, thị trường chứng khoán).
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp, thống kê mô tả, so sánh đối chiếu số liệu chuỗi thời gian. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, Báo cáo các năm của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF Country Reports No 03/382, 07/386, 09/110, 12/165), Báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 ("Từ bất ổn vĩ mô đến con đường tái cơ cấu"), số liệu công bố từ Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và các văn bản chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ và mục tiêu ổn định kinh tế
Chương 1 tập trung làm rõ bản chất của CSTT và vai trò của nó đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô. Tác giả chỉ ra rằng trong dài hạn, ổn định giá cả là mục tiêu tối thượng của NHTW vì đường cong Phillips dài hạn thẳng đứng, không có sự đánh đổi giữa lạm phát và sản lượng; tuy nhiên trong ngắn hạn, NHTW thường phải theo đuổi đa mục tiêu do tồn tại sự đánh đổi giữa kiềm chế lạm phát và giảm thất nghiệp. Chương này phân tích chi tiết cơ chế vận hành của các công cụ trực tiếp và gián tiếp, đồng thời nhấn mạnh rằng công cụ trực tiếp (như hạn mức tín dụng) dù mang tính can thiệp hành chính nhưng lại phát huy tác dụng nhanh chóng trong bối cảnh thị trường tiền tệ chưa phát triển hoặc khi lạm phát ở mức quá cao. Ngoài ra, tác giả phân tích cơ chế phối hợp CSTT - CSTK và chính sách tỷ giá thông qua mô hình IS - LM, chỉ ra độ trễ nhận biết và độ trễ hiệu lực của từng chính sách, khẳng định sự cần thiết phải phối hợp đồng bộ để tránh các cú sốc cung - cầu mất kiểm soát.
Chương 2: Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ Việt Nam với việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế giai đoạn hậu khủng hoảng
Chương 2 cung cấp bức tranh toàn diện về bối cảnh kinh tế quốc tế và trong nước giai đoạn 2008 – 2013, cùng thực tiễn điều hành CSTT của NHNN:
- Bối cảnh thế giới: Điểm lại các gói kích thích và cứu trợ quy mô lớn của Mỹ (700 tỷ USD của chính quyền G. Bush, 831 tỷ USD của chính quyền B. Obama đầu năm 2009, FED cứu trợ Bear Stearns 29 tỷ USD, AIG 182 tỷ USD, nới lỏng định lượng QE); cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu bùng phát từ Hy Lạp (thâm hụt ngân sách 13% GDP) dẫn đến gói cứu trợ 110 tỷ Euro (02/05/2010), gói 750 tỷ Euro toàn khu vực và 85 tỷ Euro cho Ireland; gói kích thích 586 tỷ USD của Trung Quốc (09/11/2008) đưa GDP quý 1/2010 tăng 11,9%; và chính sách Abenomics nới lỏng tiền tệ của Nhật Bản sau thảm họa kép tháng 3/2011 với 167 tỷ USD tái thiết.
- Bối cảnh Việt Nam (2008 - đầu 2011): Kinh tế mất cân đối nghiêm trọng do nới lỏng tiền tệ và tài khóa giai đoạn trước (năm 2009 tăng trưởng M2 đạt 29%, tín dụng tăng 38%, thâm hụt ngân sách lên tới 9% GDP theo IMF). Lạm phát biến động thất thường: 12,63% (2007), vọt lên 19,89% (2008), giảm về 6,52% (2009) rồi tăng trở lại 11,75% (2010) và đạt đỉnh 9,64% chỉ trong 4 tháng đầu năm 2011. Tăng trưởng GDP suy giảm (từ 8,48% năm 2007 xuống 6,31% năm 2008, 5,32% năm 2009 và hồi phục 6,78% năm 2010). Nợ công tăng từ 40% GDP (2007) lên 57% GDP (2010), nợ nước ngoài tăng từ 33% lên gần 42% GDP. Cán cân vãng lai thâm hụt kỷ lục năm 2008 ở mức -10,79 tỷ USD (-11,9% GDP) do nhập siêu lớn (kim ngạch nhập khẩu năm 2010 chạm 77,3 tỷ USD). Tỷ giá tự do cuối tháng 11/2010 lên tới 21.500 VND/USD, chênh lệch 10% so với tỷ giá chính thức. Hệ thống ngân hàng căng thẳng thanh khoản, nợ xấu gia tăng (cuối năm 2008 là 3,5% theo VAS, trong đó 70% dư nợ thế chấp bằng bất động sản tương đương 200.000 tỷ đồng), lãi suất liên ngân hàng năm 2008 bình quân trên 20%/năm, cá biệt lên tới 40%/năm, ROE trung bình ngành ngân hàng giảm xuống 9,5%.
- Thực tiễn điều hành CSTT giai đoạn 2011 – 2013: Căn cứ Nghị quyết số 10/2011/QH13 của Quốc hội, Nghị quyết số 11/NQ-CP (ngày 24/02/2011), các Nghị quyết 01/NQ-CP và 02/NQ-CP của Chính phủ, NHNN đã ban hành các Chỉ thị số 01/CT-NHNN hàng năm (2011 - 2014) chuyển hướng CSTT sang chặt chẽ, thận trọng:
- Tái áp dụng công cụ hạn mức tín dụng sau 13 năm dỡ bỏ: Năm 2011 khống chế tăng trưởng tín dụng dưới 20%, tỷ trọng cho vay phi sản xuất (bất động sản, chứng khoán, tiêu dùng) tối đa 16% đến 31/12/2011 (kết quả tín dụng thực tế chỉ tăng 12%). Năm 2012, giao trần tín dụng theo 4 nhóm ngân hàng dựa trên tỷ lệ nợ xấu (Nhóm 1: tối đa 17%, Nhóm 2: 15%, Nhóm 3: 8%, Nhóm 4: 0%). Sau đó điều chỉnh linh hoạt, nới room cho 36 tổ chức tín dụng (TCTD), giảm DTBB cho ngân hàng cho vay nông nghiệp nông thôn, ban hành chính sách hỗ trợ thủy sản cá tra theo Văn bản 1149/TTg-KTN (20/08/2012) và gói hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết 02/NQ-CP.
- Điều hành thị trường mở, mua ngoại tệ tăng dự trữ, hạ mặt bằng lãi suất phù hợp với chiều hướng giảm của lạm phát, đưa tăng trưởng tín dụng năm 2013 khớp mục tiêu 12% và lạm phát năm 2013 kiểm soát ở mức 6,04%.
| Chỉ tiêu vĩ mô |
2007 |
2008 |
2009 |
2010 |
2011 |
2012 |
2013 |
| Tăng trưởng GDP (%) |
8,48 |
6,31 |
5,32 |
6,78 |
6,24* |
5,25* |
5,42* |
| Tỷ lệ lạm phát / CPI (%) |
12,63 |
19,89 |
6,52 |
11,75 |
18,13* |
6,81* |
6,04 |
| Tăng trưởng M2 (%) |
46,1* |
20,3* |
29,0 |
33,3* |
12,5* |
22,4* |
18,8* |
| Tăng trưởng tín dụng (%) |
53,9* |
25,4* |
38,0 |
32,4* |
12,0 |
8,9* |
12,0 |
| Thâm hụt ngân sách (% GDP) |
-5,3* |
-4,6* |
-9,0 |
-5,7 |
-4,4* |
-4,8* |
-5,3* |
| Nợ công (% GDP) |
40,0 |
44,0* |
52,0 |
57,0 |
- |
- |
- |
| Cán cân vãng lai (Tỷ USD) |
-6,99* |
-10,79 |
-6,13* |
-4,28* |
0,24* |
9,18* |
- |
(Ghi chú: Dữ liệu tổng hợp từ các bảng biểu 2.1, 2.2, 2.3, 2.5, 2.6 và biểu đồ 2.1, 2.2, 2.3 trong văn bản; dấu * biểu thị các giá trị nằm trong danh mục bảng biểu/dữ liệu đối chiếu của khóa luận).
Chương 3: Bài học và những vấn đề đặt ra trong điều hành chính sách tiền tệ với việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn tới
Chương 3 tổng kết các bài học kinh nghiệm từ quá trình điều hành CSTT giai đoạn hậu khủng hoảng:
- Không nên duy trì CSTT nới lỏng quá mức trong thời gian dài để kích cầu tăng trưởng danh nghĩa vì sẽ tích tụ áp lực lạm phát và rủi ro nợ xấu.
- Cần kết hợp hài hòa giữa công cụ gián tiếp thị trường và công cụ trực tiếp (hạn mức tín dụng) khi hệ thống ngân hàng bộc lộ bất ổn thanh khoản.
- Nhận diện các khó khăn, thách thức kéo dài như sở hữu chéo, nợ xấu ngân hàng chưa xử lý triệt để, sự phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng của khu vực doanh nghiệp.
Từ các bài học trên, tác giả đề xuất xu hướng chuyển đổi khuôn khổ CSTT sang cơ chế Lạm phát mục tiêu linh hoạt (Flexible Inflation Targeting) cho Việt Nam sau khủng hoảng, phân tích các điều kiện áp dụng và kiến nghị giải pháp cụ thể:
- Đối với Quốc hội: Sửa đổi, hoàn thiện Luật Ngân hàng Nhà nước, nâng cao tính độc lập của NHNN trong việc thiết lập và thực thi CSTT; xác định rõ mục tiêu kiểm soát lạm phát là ưu tiên hàng đầu, giảm thiểu sự can thiệp hành chính trực tiếp vào các quyết định điều hành lãi suất và cung tiền.
- Đối với Chính phủ: Nâng cao kỷ luật tài khóa, giảm thâm hụt ngân sách nhà nước nhằm hạn chế áp lực tài trợ nợ lên thị trường tiền tệ; đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và đầu tư công; phối hợp chặt chẽ giữa CSTK và CSTT.
- Đối với Ngân hàng Nhà nước: Hiện đại hóa công tác dự báo kinh tế vĩ mô và mô hình phân tích lạm phát; chuyển đổi dần từ điều hành khối lượng tiền (M2, tín dụng) sang điều hành lãi suất ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng; phát triển nghiệp vụ thị trường mở; tái cơ cấu triệt để hệ thống TCTD, xử lý nợ xấu qua VAMC; tăng cường tính minh bạch và truyền thông chính sách để định hướng kỳ vọng thị trường.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp học thuật - thực tiễn sau:
- Kết quả dữ liệu thực nghiệm: Hệ thống hóa và phản ánh chính xác chuỗi số liệu kinh tế vĩ mô giai đoạn 2007 – 2013, chứng minh tính đúng đắn của việc chuyển đổi định hướng CSTT từ nới lỏng (2008 – 2010) sang thắt chặt, thận trọng (từ Nghị quyết 11/NQ-CP năm 2011). Số liệu cho thấy lạm phát từ mức đỉnh 19,89% (2008) và áp lực 18,13% (2011) đã được kéo giảm thành công về mức 6,04% (2013) – mức tăng thấp nhất trong 10 năm tại thời điểm nghiên cứu; tăng trưởng tín dụng được ghìm cương từ mức quá nóng 38% (2009) về mốc kiểm soát 12% (2011 và 2013).
- Đóng góp về mặt lý luận và giải pháp: Đề tài đã phân tích rõ ràng cơ chế phân bổ hạn mức tín dụng theo 4 nhóm TCTD gắn với chất lượng nợ xấu (năm 2012) như một bước đệm điều hành hiệu quả. Đồng thời, khóa luận là một trong những công trình nghiên cứu sớm tại Học viện Ngân hàng đề xuất có hệ thống mô hình Lạm phát mục tiêu linh hoạt kèm theo lộ trình chuẩn bị các điều kiện nền tảng về thể chế, tính độc lập của NHTW và công cụ phân tích dự báo cho Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện tại thời điểm nghiên cứu:
- Về dữ liệu: Do khóa luận hoàn thành vào tháng 5/2014, chuỗi số liệu của năm 2014 mới dừng lại ở mức dự báo hoặc các chỉ tiêu quý đầu năm, chưa thể bao quát trọn vẹn toàn bộ chu kỳ điều hành của năm 2014. Các dữ liệu thứ cấp chủ yếu tổng hợp từ báo cáo thống kê vĩ mô, chưa tiếp cận sâu vào dữ liệu vi mô chi tiết của từng TCTD.
- Về phương pháp: Đề tài chủ yếu áp dụng phương pháp định tính kết hợp thống kê mô tả chuỗi dữ liệu lịch sử; chưa xây dựng mô hình kinh tế lượng định lượng chuyên sâu (như VAR/VECM hoặc DSGE) để kiểm định định lượng mức độ và độ trễ truyền dẫn của từng công cụ tiền tệ tới lạm phát và sản lượng.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực nghiệm bằng các mô hình định lượng đo lường chính xác các độ trễ chính sách (độ trễ bên trong và bên ngoài) của CSTT Việt Nam; đánh giá sâu hơn tác động của việc xử lý nợ xấu qua VAMC và mức độ hoàn thiện các tiêu chuẩn Basel đối với hiệu quả truyền dẫn chính sách trong khuôn khổ lạm phát mục tiêu.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tư liệu học thuật có giá trị tham khảo thiết thực:
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế học vĩ mô, Kinh tế phát triển; các nhà nghiên cứu chính sách tiền tệ và quản lý ngân hàng.
- Phần nội dung đáng tham khảo:
- Hệ thống lý luận về các kênh truyền dẫn CSTT (kênh lãi suất, kênh giá tài sản theo Tobin's Q, kênh tín dụng và bảng tổng kết tài sản).
- Phân tích thực tiễn áp dụng công cụ hạn mức tín dụng phân nhóm năm 2011 – 2012 và kinh nghiệm phối hợp CSTT - CSTK trong kiểm soát lạm phát sau khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận xác định khoảng lạm phát tối ưu và tăng trưởng hợp lý của Việt Nam là bao nhiêu?
Dựa trên tính toán giai đoạn 1996 – 2012 của Nguyễn Thạc Hoát (2013) và khuyến nghị của IMF (2006), khoảng lạm phát tối ưu cho Việt Nam là $6% \pm 2%$ (với ngưỡng tối ưu 7,5%). Tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý được xác định là bằng hoặc lớn hơn tỷ lệ lạm phát tối ưu.
2. Công cụ hạn mức tín dụng đã được NHNN tái sử dụng và phân bổ như thế nào trong các năm 2011 – 2012?
Sau hơn 13 năm dỡ bỏ, năm 2011 NHNN áp dụng lại hạn mức tín dụng với mức tăng trưởng toàn hệ thống không quá 20%, dư nợ phi sản xuất tối đa 16%. Năm 2012, NHNN phân bổ hạn mức tín dụng theo 4 nhóm TCTD dựa trên chất lượng nợ xấu: Nhóm 1 (tối đa 17%), Nhóm 2 (tối đa 15%), Nhóm 3 (tối đa 8%) và Nhóm 4 (0% - không được tăng trưởng tín dụng).
3. Tại sao cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu và chính sách của các nước lớn được đưa vào phân tích bối cảnh?
Khóa luận phân tích các gói cứu trợ của Mỹ (700 tỷ USD, 831 tỷ USD), khủng hoảng nợ công châu Âu từ Hy Lạp (thâm hụt ngân sách 13%), gói kích thích 586 tỷ USD của Trung Quốc và chính sách Abenomics của Nhật Bản nhằm làm rõ bối cảnh suy giảm tổng cầu thế giới, biến động giá cả hàng hóa quốc tế và áp lực lên dòng vốn ngoại, qua đó giải thích tác động lan truyền tới cán cân vãng lai, tỷ giá và lạm phát của Việt Nam.
4. Khóa luận chỉ ra nguyên nhân nào dẫn đến căng thẳng thanh khoản và nợ xấu hệ thống ngân hàng Việt Nam năm 2008?
Nguyên nhân chủ yếu do tăng trưởng tín dụng quá nóng các năm trước, tỷ lệ tín dụng/vốn huy động tăng cao, trong khi có tới 70% dư nợ cho vay được thế chấp bằng bất động sản (tương đương 200.000 tỷ đồng) và 9,15% tổng dư nợ liên quan trực tiếp đến bất động sản, dẫn tới rủi ro thanh khoản nghiêm trọng khi thị trường bất động sản đóng băng và lãi suất liên ngân hàng vọt lên mức bình quân trên 20%/năm (cá biệt 40%/năm).
5. Mô hình CSTT nào được tác giả đề xuất cho Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo?
Tác giả đề xuất định hướng áp dụng khuôn khổ Lạm phát mục tiêu linh hoạt (Flexible Inflation Targeting), đi kèm các điều kiện về tăng cường tính độc lập của NHNN, kỷ luật tài khóa của Chính phủ, nâng cao năng lực dự báo vĩ mô và chuyển dịch sang điều hành lãi suất thị trường liên ngân hàng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Giang Thị Duyên đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về CSTT và mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi có độ mở cao. Công trình phản ánh chân thực, chi tiết bức tranh kinh tế Việt Nam giai đoạn hậu khủng hoảng 2008 – 2013, làm rõ sự cần thiết của bước chuyển hướng điều hành sang thắt chặt, thận trọng để kiềm chế lạm phát thành công từ đỉnh cao về mức 6,04% năm 2013. Đồng thời, đề tài đã đưa ra các khuyến nghị có giá trị thực tiễn về việc tái cơ cấu ngân hàng, xử lý nợ xấu và xây dựng lộ trình áp dụng khuôn khổ lạm phát mục tiêu linh hoạt tại Việt Nam.