Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI 1. Quan niệm chung về chính sách đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 1. Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 1. Khái niệm Đến nay, trên thế giới vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu nào đưa ra khái niệm chuẩn về xuất khẩu lao động hay đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài.
Mỗi tác giả thường đưa ra những nhận định theo ý kiến chủ quan bằng các diễn đạt khác nhau trên cơ sở nghiên cứu tài liệu liên quan, song các ý kiến đó vẫn luôn bám sát và cùng hướng tới một đặc điểm chung là hoạt động đưa lao động nội địa ra nước ngoài làm việc. Xét trên góc độ thương mại có thể phát triển định nghĩa xuất khẩu lao động là một trong những hoạt động mua – bán sức lao động của con người nội địa cho những người sử dụng lao động nước ngoài. Điểm khác biệt của hoạt động mua và bán sức lao động so với các hoạt động thương mại khác thể hiện ở chỗ người có sức lao động trong nước sẽ bán quyền sử dụng sức lao động của chính mình trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận giữa hai hoặc các bên liên quan cho người có nhu cầu sử dụng lao động ngoài nước để nhận về một khoản tiền hàng tháng dưới hình thức là tiền lương, thù lao. Còn người sử dụng sức lao động ngoài nước sẽ dùng tiền để mua sức lao động của người có sức lao động và yêu cầu NLĐ phải thực hiện những công việc nhất định nào đó theo mong muốn của mình; người sử dụng lao động nước ngoài ở giao dịch này chính là chính phủ nước ngoài hay những cơ quan, tổ chức kinh tế của nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động quốc tế.[13] 12 Luan van Tổ chức Lao động quốc tế ILO không sử dụng thuật ngữ xuất khẩu lao động mà là “di cư lao động” và theo Tổ chức này thì di cư lao động là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trong khuôn khổ pháp luật, quy định và các hiệp định quốc tế liên quan đến việc nhập cảnh và xuất cảnh từ quốc gia xuất phát, quốc gia trung chuyển hoặc quốc gia điểm đến.[14] Ở nước ta, từ năm 1991, khái niệm xuất khẩu lao động được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hành chính khác.
Khi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được Quốc Hội khóa 10 thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007 thì khái niệm “Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài” đã được luật hóa. Từ những khái niệm trên có thể hiểu “Đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài là quá trình đưa NLĐ đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài dưới sự quản lý và hỗ trợ của nhà nước theo hợp đồng của các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, các tổ chức sự nghiệp, các doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu, các tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài, hợp đồng nâng cao tay nghề, hoặc theo hợp đồng giữa cá nhân người lao động và chủ sử dụng lao động nước ngoài”. Vai trò, ý nghĩa của hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng quan hệ quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa như ngày nay, không thể không nhắc đến vai trò quan trọng của hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài. Đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài ngày càng khẳng định được ưu thế của một phương thức đổi mới giúp nâng cao giá trị nguồn lao động, đa dạng hóa thị trường lao động và góp phần thực hiện được cả mục tiêu về kinh tế lẫn xã hội.
13 Luan van a) Trên phương diện mục tiêu kinh tế Xét ở góc độ lợi ích kinh tế, hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài tác động trực tiếp đến ba chủ thể tham gia là người lao động, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài và Nhà nước, cụ thể: - Tăng thu nhập cho người lao động: Thu nhập là mục tiêu hàng đầu của NLĐ đi làm việc ở nước ngoài. Tuỳ theo luật pháp và thu nhập bình quân của nước sử dụng lao động, NLĐ đi làm việc theo các ngành nghề được tuyển chọn trong thời hạn nhất định và được hưởng một khoản thu nhập quy định trong hợp đồng lao động. Thu nhập của NLĐ có xu hướng tăng lên hàng năm trên cơ sở năng suất lao động của họ. Do đó, sau khi kết thúc thời hạn hợp đồng lao động, nếu NLĐ hoàn thành các cam kết theo hợp đồng thì họ có thể tích lũy được một khoản tiền tương đối lớn, bình quân thu nhập gấp 5-10 lần so với thu nhập trong nước.
Bằng số tiền tích luỹ được, nhiều NLĐ sau khi hết hạn hợp đồng về nước không chỉ xóa được nghèo mà còn có khả năng đầu tư vào sản xuất kinh doanh, ổn định kinh tế và giúp tạo thêm nhiều việc làm mới cho cộng đồng. - Đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài: Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài là trung gian tạo ra lợi ích cho NLĐ đi làm việc ở nước ngoài và mang đến hiệu quả kinh tế quốc dân cho Nhà nước. Khi hoàn thành dịch vụ của mình, các doanh nghiệp này nhận được một khoản chi phí dịch vụ trích từ tiền lương cơ bản của người lao động theo quy định. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn phát triển thêm một số dịch vụ liên quan như liên kết đào tạo nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho NLĐ hoặc hỗ trợ NLĐ thực hiện các hồ sơ, thủ tục trước khi xuất cảnh.
Các khoản thu này tiếp tục được doanh nghiệp sử 14 Luan van dụng để trang trải các chi phí khai thác, tìm kiếm thị trường, tuyển chọn lao động, duy trì bộ máy hoạt động và thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước theo luật định. - Nhà nước tiết kiệm được chi phí đầu tư cho giải quyết việc làm trong nước; tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, góp phần tăng trưởng kinh tế và đầu tư công: Thông qua hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, hàng năm Nhà nước đã tiết kiệm được một lượng vốn đầu tư cho các chính sách giải quyết việc làm trong nước. Ngân sách Nhà nước được bổ sung bằng chi phí bảo hiểm xã hội, thuế thu nhập doanh nghiệp, lệ phí cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài cũng như các khoản phí, lệ phí liên quan khác, v.v… Ngoài ra, nguồn thu kiều hối từ lực lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài có xu hướng gia tăng qua các năm, đóng góp tỷ trọng lớn trong tổng lượng kiều hối chuyển về nước, từ đó tạo thêm nguồn lực kinh tế cho đất nước, cải thiện nguồn dự trữ ngoại hối quốc giá và giảm thiểu sự phụ thuộc vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài. b) Trên phương diện mục tiêu xã hội Hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài là giải pháp hữu hiệu trong công tác giải quyết việc làm cho NLĐ, góp phần tạo việc làm hằng năm cho hàng ngàn lao động, đặc biệt là lực lượng thanh niên; giúp giải quyết tình trạng ứ đọng lao động, giảm sức ép về việc làm trong nước và nhờ đó cũng giảm thiểu các tệ nạn xã hội do tình trạng thất nghiệp gây nên.
Thông qua hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, NLĐ được nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề, ngoại ngữ, được tiếp cận với nền khoa học công nghệ tiên tiến của các nước phát triển hơn, xây dựng được tác phong làm việc công nghiệp và ý thức kỷ luật nghiêm chỉnh, hình thành nên đội ngũ lao động chất lượng cao. Tư duy, nhận thức của NLĐ được nâng cao, thu nhập và 15 Luan van mức sống của người dân dần cải thiện, vấn đề việc làm được giải quyết tốt là nền tảng quan trọng để tạo nên những chuyển biến lớn trong ổn định tình hình chính trị - văn hóa – xã hội của đất nước. Ngoài ra, đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động đối ngoại, quan hệ quốc tế. Đây chính là cầu nối giao lưu văn hóa, tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc nhằm nâng cao vị trí chính trị và uy tín của đất nước trên thị trường quốc tế.
c) Đối với các nước tiếp nhận lao động Không chỉ có ý nghĩa đối với nước đưa NLĐ đi làm việc, hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài còn mang đến nhiều lợi ích đối với nước tiếp nhận lao động. Hoạt động này đảm bảo cung cấp đủ số lao động mà nước tiếp nhận còn đang thiếu hụt hoặc chưa có nhiều kinh nghiệm; đồng thời, mở rộng quan hệ, uy tín với nước có lao động, khai thác được kinh nghiệm, kiến thức, giao lưu văn hóa và làm đa dạng hóa thị trường lao động trong nước. Song cũng không thể không nhắc đến những ảnh hưởng tiêu cực mà hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài tác động đến nước tiếp nhận lao động như: nguy cơ gây mất trật tự an ninh quốc gia; tăng áp lực về cung ứng lương thực, thực phẩm và hàng hoá tiêu dùng đáp ứng nhu cầu cho NLĐ nhập cư;…. Đặc điểm của hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài a) Đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài là một hoạt động kinh tế, thương mại đặc biệt đồng thời cũng là hoạt động mang tính xã hội cao Hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài về bản chất cũng nằm trong mối quan hệ mua – bán, nhưng hàng hóa trao đổi ở đây không thể tách rời với người bán – đó là sức lao động.
Hoạt động này đem lại lợi ích cho cả hai bên tham gia (bên cung và bên cầu). Dù đứng ở góc độ nào thì với tư cách là chủ thể của một hoạt động kinh tế, cả bên cung và bên cầu khi tham gia vào hoạt động này cũng đều nhằm mục tiêu lợi ích kinh tế. Cả “người mua” và 16 Luan van “người bán” phải luôn cân nhắc giữa chi phí bỏ ra với nguồn lợi thu về để có thể đi đến thỏa thuận cuối cùng đáp ứng được nhu cầu và thỏa mãn lợi ích đôi bên.