CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VE CHÍNH SÁCH DAI NGỘ QUAN CHỨC THỜI QUẦN CHỦ NGUYÊN 1. Khái quát về hệ thống quan chức trong nhà nước quân chủ Nguyễn 1.1 Quan niệm về chính sách đãi ngộ quan chức thời quân chủ Theo Tir điển Tiéng Viét, Chính sách: là “sách lược và các chu trương, biện pháp cu thể dé thực hiện đường loi và nhiệm vụ trong một thời ki lịch sw nhất định””. Theo Từ điển Luật học: Ché độ “là tổng thé các quy tac cân phải tuân theo; là hệ thống các quy định pháp luật cần phải được tuân thủ trong một quan hệ xã hội nhất định”. Từ đó có thé thấy, khái niệm chính sách và chế độ có nội hàm khác nhau.
Nếu như chế độ là quy định của pháp luật bắt buộc phải tuân theo, thì chính sách được hiểu đó là chủ trương chính sách được xây dựng, ban hành và thực hiện như thế nào. Dai ngộ là “Cho hưởng các quyên lợi theo chế độ, tương xứng với sự đóng gop”. Quan lại: là một danh từ ghép, bao gồm quan và lại. Theo Tờ điển Hán - Việt, Lại “là làm việc quan, chức phụ thuộc trong nha môn 0.
Quan là “ngurdi lam việc cho nhà nước, làm chủ trong một công viéc’””"'. Theo Từ điển Han Việt của Bửu Kế: Quan chức là “các quan và chức vụ của họ ”!2. Xuất phát từ bản chất của nhà nước quân chủ nói chung và nguyên tắc “Liên kết dòng họ”, lay Hoàng thân Quốc thích làm bệ đỡ cho sự tồn tại của vương triều, nên thân thuộc của nhà vua và Hoàng hậu được hậu đãi về mặt vật chất và ban phong tước vị, do đó trong hệ thống thang bậc của quan chức cũng hàm chứa nhiều đối tượng trong hàng ngũ quý tộc. Tuy không đảm nhận chức vụ cố định trong bộ máy nhà nước nhưng đội ngũ quý tộc này vẫn được trao một số nhiệm vụ nhất định hoặc đảm nhận một số chức vụ và cũng gánh chịu những hình phạt nhất định nếu không hoàn thành nhiệm vụ như chính sử có chép: Tôn Thất Đạo được trao chức Chánh giám sơn lăng sứ vì phòng giữ không cân thận nên giáng 3 cấp đánh 40 roi; Chánh đội trưởng Tôn That Tại vì phòng giữ không cân than bị đóng gong, phạt trượng cách lưu; Kiến An công là Đài không biết quản quân phạt lương thân công | năm hay Tôn Thất Loan không hoàn thành nhiệm vu quân sự bị giáng 4 câp.
Vì vậy, khái niệm quan chức thời quân chủ cân được hiêu rộng hơn so với khái niệm ? http://tratu.vn/dict/vn_ vn '° Đào Duy Anh (2010), Tờ điển Hán Việt, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, tr.387 “ Đào Duy Anh (2010), Tir điển Hán Việt, sdd, tr. 600 ? Bửu Kế, sdd, trang tr. Quan chức trong bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế Nguyễn không chỉ bao gồm những người giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước và còn bao gồm đội ngũ quý tộc được ban phong tước vị và các đại thần giữ vai trò tư vấn, giúp việc cho nhà vua. Từ việc phân tích các thuật ngữ cau thành va thuc tién tô chức, vận hành bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế Nguyễn có thé hiểu Chính sách đãi ngộ quan chức thời quân chủ là các biện pháp, kế hoạch, đường lối, chủ trương của nhà nước đối với những người được ban phong tước vị, giữ chức vụ hoặc thực hiện nhiệm vụ tu vấn, giúp việc cho nhà Vua.
Vị trí, phương thức tuyển chọn và sử dụng quan chức trong bộ máy nhà nước quân chủ Nguyễn Với bốn phận là tôi trung của Hoàng dé, quan chức có vị trí, vai trò quan trọng trong nên hành chính quốc gia. Quan chức không chỉ là đội ngũ tư van, giúp Hoàng dé hoạch định chính sách cai trị và quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, mà còn là người những triển khai mọi chủ trương, chính sách của nhà nước, là cầu nối giữa nhà nước với người dân. Hệ thống quan chức thời Nguyễn cũng có sự sắp xếp và phân loại giống như các triều đại quân chủ Việt Nam trước đó. Tùy theo tiêu chí phân loại, quan chức có thé được phân thành nhiều ngạch khác nhau.
Theo địa bàn làm việc: quan chức được phân thành quan trong (quan làm việc tại trung ương) và quan ngoài (quan làm việc tai địa phương). Theo lĩnh vực quản ly: quan được phân thành ba ngạch, bao gồm quan văn, quan võ và nội quan (quan phục vụ cho vua và hậu cung). Việc phân loại quan chức thành ngạch bậc có ý nghĩa rất lớn trong việc hoạch định chính sách, quyết định phương thức tuyển bé và chính sách đãi ngộ đối với quan chức. Quan chức thời quân chủ Nguyễn cũng như các triều đại quân chủ trước được tuyên dụng bằng ba phương thức chủ yếu sau: - Nhiệm tử (tập 4m): là phương thức tuyển dụng con cháu của quý tộc công thần và quan chức dựa trên ân trạch của ông cha.
Lệ tập Am này được quy định trong Hoang Việt luật lệ tai điều điều 1 Q. IV chương Lại /udt và một số văn ban đơn hành của các vị vua Nguyễn: các con đẻ của quan từ tứ phẩm trở lên và một con trưởng của quan ngũ phẩm từ 15 tudi trở lên”. Các đối tượng này phải sung vào ngạch Nho sinh dé học tập. Chức vụ và phẩm hàm của đối tượng được 4m sung lệ thuộc vào kết quả thi khảo hạch và dựa trên tước pham của ông cha.
- Khoa cử: đây là phương thức tuyên chọn quan chức được đặt ra lần đầu tiên vào thời kì nhà Lý và trở thành một phương thức tuyên chọn quan chức chủ yếu vào từ thế kỉ XV trở đi. l3 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam hội dién sự lệ tập 2, NxbThuận Hóa, Huế, tr. 318 15 Với tinh thần “Khoa mục là con đường bằng phẳng của học trò, thực không thiếu được ”'“ các kì thi dưới triều Nguyễn diễn ra dưới 2 hình thức thường niên và không thường niên (gồm ân khoa và chế khoa). Theo thống kê, trong suốt thời gian trị vì từ thời vua Gia Long đến thời vua Tự Đức, nhà Nguyễn đã tổ chức 33 kì thi Hương lẫy đỗ 3991 Cử nhân; 25 kì thi Hội với 371 người đỗ và 19 kì thi Dinh, lay đỗ 141 Tiến sĩ và 121 Phó bảng”.
Dựa trên kết quả khoa cử, người đỗ các kỳ thi có thé được bổ nhiệm chức quan lớn nhỏ khác nhau. Trước khi được bố nhiệm chính thức, người đỗ đạt trong các kì thi buộc phải trải qua thời gian thực tập. Thời gian thực tập có thể kéo dài 3 năm đối với tú tài và cử nhân hoặc thu gon trong 1 năm đối với tiến ~ sĩ. - Đề cử: Xuất phát từ việc “mong mỏi người hiển, cẩu nhân tài như khát cau nước”'" và yêu cầu không được lạm cử, quan chức đã thực hiện việc đề cử, bảo cử những người hién tài ra giúp nước.
Việc tiễn cử, bảo cử thé hiện nghĩa vu của bề tôi đối với nhà vua, đó là lòng trung. Theo đó, quan chức được đề cử cần đem chức vụ, pham hàm của minh làm đảm bảo dé dé cử những người có đức có tài. Quan chức không được vi lòng riêng, né nang vì tình thân nghĩa cũ trong đề cử dé “dau có đứng một mình không then với bóng, nằm một mình không then với chăn, và ở một mình không then với nhà riêng kín đáo ”"”. Đôi tượng đề cử phải có đầy đủ tiêu chí tài và đức; tuân theo quy định của nhà nước như: Thượng thư đề cử người có khả năng làm Bồ chính các tỉnh, Thị lang Lục bộ và các ấn quan chánh, tòng tam phâm ở các nha đề cử người có khả năng làm Tri phủ, Đồng tri phủ; Chưởng phủ, Đô thống cử người làm Vệ uý, Lãnh binh.
Ÿ Trong quá trình sử dụng, quan chức còn được sắp xếp theo một tôn ti trật tự do nhà nước định sẵn. Tôn ti trật tự đó thé hién rõ trong hệ thống phẩm, tước mà nhà nước gia phong. Xét về thứ bậc, với hai ngạch quan văn, võ, quan chức được chia thành 9 phẩm, ở mỗi phẩm lại được chia thành 2 bậc chánh và tòng. Thông thường trong triều Nguyễn thứ bậc là căn cứ để nhà nước giao chức trách và đãi ngộ.
Với tầm quan trọng ấy, ngay từ đời vua Gia Long việc định thứ bậc của quan chức đã được quan tâm. Thời Minh Mệnh, xác định việc đặt quan, chia z ` tA z 3 A tA ` mw : li 42 2 - 4:4,19 chức là việc lớn của triêu đại nên nha vua đã đưa ra quy định khá tỉ mi, chi tiệt ˆ. 4 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực luc, Tap 1, Nxb Giáo dục, tr.527 * Phạm Đức Thành Dũng, Vinh Cao. (2000), Khoa cứ và các nhà khoa bảng triéu Nguyên, sdd, tr.105-108 I6 Quốc sử quán triệu Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, t4, sdd, tr.491-492 W Quôc sử quán triêu Nguyên (2007), Đại Nam thực lục t4, sdd, tr.826-827 18 Quoc sử quan triéu Nguyén (2007), Đại Nam thực lục t4, sdd, tr.491-492 19 nah x Xem chuyên dé 1: phan 1.4 16 Ngoài phẩm, vinh hàm, chức vụ dé phân biệt thứ tự cao thấp cho hệ thống quan chức, các vị Hoàng dé trong nhà nước quân chủ Nguyễn còn đặt ra hệ thống tước vị.
Tước là danh hiệu cao nhất Nhà nước thường dùng để phong tặng cho hoàng tử, hoàng thân, quốc thích và người có công với triều đại, bao gồm 6 bậc: Vương, công, hầu, bá, tử, nam. Trong đó, tước vương, công thường chỉ dành phong tặng cho các hoàng tử” với tiêu chí về độ tuổi (15 tuổi) va đủ đức hạnh”. Còn các tước khác được phong tặng cho quan chức có công khác trong quá trình thực thi công vụ. Trong quá trình làm việc, quan chức trong bộ máy nhà nước thường xuyên phải luân chuyên, đôi bổ và chịu sự khảo xét định kì của nhà nước.
Đồng thời, là bề tôi của nhà vua, do đó, quan chức cần có nghĩa vụ và bốn phận minh trung với nhà vua, có trách nhiệm “tu thân” và trách nhiệm đối với đồng liêu trong quá trình thực thi công vụ. Cơ sở hình thành chính sách đãi ngộ quan chức của nhà nước quân chủ Nguyễn 1. Kinh tế, xã hội Sau khi thống nhất đất nước, nền kinh tế nông nghiệp sa sút, dân phiêu tán khắp nơi do hậu quả của nội chiến, điển hình là năm 1827, riêng 13 huyện ở Hai Duong có 118 xã thôn bị phiêu tán”. Trước thực trạng trên, các Hoàng dé triều Nguyễn với tinh thần “việc lam ruộng là gốc lớn của thiên ha” đã ban hành một số chính sách phát triển nông nghiệp và 6n định xóm làng, do vậy, từ năm 1820 đến năm 1840, số ruộng đất trong cả nước đã tăng từ 3.