CHƯƠNG 1 Luận văn thạc sĩ MHV: CH190590 6 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại Có thể nói ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Nó như là một lẽ tất yếu khách quan của sự tồn tại và phát triển xã hội.
Ngân hàng được hình thành và phát triển cùng với sự tiến bộ của nền kinh tế xã hội. Hình thức ngân hàng sơ khai đầu tiên là nhận tiền gửi và cho vay một phần số tiền đó. Hình thức này xuất hiện do một số người có nhu cầu cất trữ số tiền của mình. Trước nhu cầu đó, một số thương gia đã đứng ra làm nhiệm vụ trông coi, cất giữ hộ tiền và thu phí trên số tiền giữ hộ.
Tuy nhiên, trong quá trình cất giữ các thương gia nhận thấy trong kho cất giữ tiền luôn tồn tại một lượng tiền dư thừa, vì thực tế những người gửi tiền không bao giờ lại rút hết tiền cùng một lúc. Trong khi đó, có rất nhiều người có nhu cầu vay vốn để tiền hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy các thương gia đã bắt đầu sử dụng một phần tiền thừa trong kho cất giữ đem đầu tư và thu lãi, từ đó họ thu thêm được lợi nhuận. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đã xuất hiện thêm nhiều hình thức ngân hàng khác nhau, dù đến nay đã trở thành một tổ chức kinh doanh tiền tệ chuyên nghiệp song hoạt động thường xuyên và chủ yếu vẫn là nhận tiền gửi của khách với cam kết hoàn trả lại đúng số tiền đó cộng thêm lãi và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tư và thực hiện một số nghiệp vụ khác.
Ngân hàng được coi là một sản phẩm độc đáo, một động lực quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Với vai trò trung gian tài chính, ngân hàng không thể đứng ngoài hoạt động của bất cứ quốc gia nào,vì vậy mỗi nước đều xây dựng những khung pháp lý quy định, giới hạn hoạt động của ngân hàng. Mỗi nước khác nhau sẽ có một khái niệm và mô hình tổ chức ngân hàng khác nhau căn cứ dựa vào tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động. Luật ngân hàng của Pháp năm 1941 định nghĩa: “Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay Luận văn thạc sĩ MHV: CH190590 7 hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”.
Luật ngân hàng của Ấn Độ năm 1959 bổ sung: “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”. Luật ngân hàng của Đan Mạch năm 1930 quy định: “Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân…”. Các cách định nghĩa trên chỉ khác nhau về mặt thể hiện còn nội dung đều có một điểm chung là tính chất nhận tiền ký thác – tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, để sử dụng cho vay, chiết khấu và các nghiệp vụ kinh doanh khác. Ở Việt Nam hiện nay theo luật tổ chức tín dụng 12/12/1997 thì: “NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”.
Trong đố “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Thông thường các nước có thể sử dụng các loại mô hình NHTM như sau: mô hình truyền thống và mô hình hiện đại. Mô hình truyền thống: gồm có các ngân hàng đa năng và các ngân hàng chuyên doanh. Mô hình hiện đại (mô hình phổ biến hiện nay): gồm có các NHTM – các định chế tài chính lớn, các ngân hàng phát triển, các ngân hàng có quy chế chuyên môn hóa, các ngân hàng có quy chế đặc biệt.
Cụ thể, ở Việt Nam có các loại hình ngân hàng sau: NHTM quốc doanh: Đây là các ngân hàng giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân hàng ở nước ta. Các ngân hàng này được Nhà nước cấp vốn và hoạt động chịu sự quản lý của Nhà nước. Ngoài việc tiến hành kinh doanh bình thường là: huy động vốn, cho vay và các dịch vụ khác, những ngân hàng này còn phải thực hiện các nhiệm vụ khi Nhà nước giao cho. Luận văn thạc sĩ MHV: CH190590 8 NHTM cổ phần: là loại hình ngân hàng được thành lập và hoạt động theo luật công ty cổ phần.
Sở hữu ngân hàng là các cổ đông, họ cùng nhau góp vốn để hình thành và hoạt động theo quy định của pháp luật. Ngân hàng liên doanh: là loại hình ngân hàng được thành lập trên cở sở hợp đồng liên doanh, vốn điều lệ là vốn góp của ngân hàng Việt Nam và ngân hàng nước ngoài có trụ sở chính tại Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: là một bộ phận của ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, chịu sự điều tiết của luật pháp Việt Nam. Ngân hàng đầu tư: là những ngân hàng tập trung huy động vốn trung và dài hạn để đầu tư chủ yếu thông qua các dự án.
Ngân hàng chính sách: thông thường là những NHTM 100% vốn Nhà nước hoặc NHTM cổ phần Nhà nước (gồm sở hữu Nhà nước và sở hữu của các tổ chức kinh tế quốc doanh) được thành lập để phục vụ một hoặc một số chính sách của Nhà nước, nó hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, chênh lệch giữa chi phí huy động vốn và sử dụng vốn sẽ được Nhà nước bù đắp. Ngân hàng hợp tác: là những tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể, được các thành viên tự nguyện lập lên không phải vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu tương trợ lẫn nhau về vốn và các dịch vụ ngân hàng. Nguyên tắc thành lập và hoạt động của loại hình này là tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, tự trang trải mọi chi phí và tự chịu trách nhiệm. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại NHTM hiện đại có ba hoạt động chính đó là: hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và hoạt động khác.
Ba hoạt động này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên uy tín và sức mạnh cạnh tranh cho các NHTM. Các hoạt động này đan xen lẫn nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hoạt động huy động vốn Hoạt động huy động vốn của NHTM được thực hiện qua hành vi mở tài khoản để thực hiện thanh toán cho khách hàng, hoặc huy động các loại tiền gửi có kỳ hạn, Luận văn thạc sĩ MHV: CH190590 9 không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, dân cư (huy động vốn một cách bị động), phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, đi vay các tổ chức tín dụng khác, vay NHTW (huy động vốn một cách chủ động)… Trong đó tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của Ngân hàng, qui mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác bao gồm tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp và cá nhân, tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế xã hội, tiền gửi tiết kiệm của dân cư và tiền gửi của các Ngân hàng khác. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền với chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã và đang đưa ra nhiều hình thức huy động với mức lãi suất hấp dẫn và các chương trình khuyến mại ngày càng đa dạng, phong phú hơn.
Bên cạnh nguồn vốn huy động từ tiền gửi các NHTM thường phải đi vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế. Các NHTM có thể vay của NHTW dưới hình thức chủ yếu là được tái cấp vốn, tái chiết khấu, hoặc vay của các tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường vốn bằng cách phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, cổ phiếu… Với hoạt động huy động vốn, các NHTM đã thực sự huy động được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế vào quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa. Nhờ hoạt động của NHTM, tiền tiết kiệm của cá nhân, đoàn thể, các tổ chức kinh tế được huy động vào quá trình vận động của nền kinh tế. Nó chuyển của cải, tài nguyên của xã hội từ nơi chưa sử dụng, còn tiềm năng vào quá trình sử dụng phục vụ cho sản xuất kinh doanh nâng cao mức sống xã hội.
Với hoạt động huy động vốn, NHTM bước đầu có điều kiện thực hiện các chức năng cơ bản của mình, thực hiện vai trò trung gian tài chính để lưu chuyển nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu với chi phí hợp lý giảm thiểu các trường hợp bất cân xứng trên thị trường. Hoạt động sử dụng vốn Bên cạnh huy động vốn, sử dụng vốn là hoạt động chủ yếu của mỗi Ngân hàng. Nếu một ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào nhưng không sử dụng vốn hợp lý, hiệu quả thì không những không đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng, mà ngược lại còn không có nguồn bù đắp cho khoản chi phí từ hoạt động huy động. Hoạt động sử dụng vốn bao gồm các hoạt động tín dụng, ngân quỹ, đầu tư tài chính… Luận văn thạc sĩ MHV: CH190590 10 Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các Ngân hàng nói riêng và của các trung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất.
Thông thường, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng chiếm tới 65 – 70% trong tổng lợi nhuận của Ngân hàng.