Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học “Phòng ngừa tình hình tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam hiện nay” được tác giả Đỗ Thị Minh Phượng thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Đình Nhã, thuộc chuyên ngành Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm (mã số: 9.05), bảo vệ năm 2022.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hệ thống ngân hàng giữ vị trí huyết mạch trong việc vận hành nền kinh tế, quyết định sự an toàn và ổn định tài chính quốc gia. Cùng với quá trình phát triển theo cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, tình hình vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam gia tăng về số lượng, quy mô thiệt hại cũng như tính chất nguy hiểm. Thực tiễn tố tụng cho thấy các cơ quan chức năng đã khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử hàng ngàn vụ án với sự tham gia của các đối tượng liên quan đến các ngân hàng và tổ chức tín dụng. Các phương thức, thủ đoạn phạm tội diễn ra đa dạng: đối tượng bên ngoài móc nối với cán bộ tín dụng để làm sai quy định cho vay; thẩm định, xét duyệt sai đối tượng; cấp tín dụng không có bảo đảm hoặc cấp ưu đãi trái luật; làm giả chứng từ, phát hành hoặc sử dụng phương tiện thanh toán bất hợp pháp. Các vụ việc điển hình gây chấn động dư luận được tác giả dẫn chứng như: vụ án chiếm đoạt 120.886 tỷ đồng tại Chi nhánh Ngân hàng liên doanh Việt Nga; vụ Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) Ninh Thuận duyệt hồ sơ sai quy định làm thất thoát 200 tỷ đồng.

Báo cáo của Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội chỉ ra rằng các vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng mang tính hệ thống, diễn ra âm thầm trong thời gian dài nhưng chậm bị phát hiện và xử lý, dẫn đến hầu hết vụ án đều có tổ chức và tính chất đồng phạm phức tạp. Thiệt hại tài sản thực tế lên tới hàng ngàn tỷ đồng, tác động tiêu cực đến tính lành mạnh của thị trường tiền tệ. Trước diễn biến đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Công văn số 1007/NHNN-TTGSNH ngày 18/02/2021 yêu cầu tăng cường phòng ngừa tội phạm theo Chỉ thị số 07/CT-NHNN.

Khoảng trống nghiên cứu lớn mà luận án chỉ ra là: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chủ yếu quy định Tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng tại Điều 206 và tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả tại Điều 207. Tuy nhiên, các hoạt động ngân hàng trên thực tế diễn ra rất rộng lớn (đầu tư, bảo lãnh, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, phòng chống rửa tiền, quản trị tài sản...), phát sinh nhiều hành vi xâm phạm chế độ sở hữu và tội phạm về chức vụ. Các công trình khoa học trước đây phần lớn nghiên cứu dựa trên Bộ luật Hình sự năm 1999 hoặc chỉ xem xét dưới góc độ luật hình sự, khoa học điều tra, chưa có công trình chuyên sâu toàn diện dưới góc độ Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm trong bối cảnh pháp luật và kinh tế - xã hội mới.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là bổ sung, cụ thể hóa hệ thống lý luận về phòng ngừa tình hình tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng; đồng thời khảo sát thực tiễn để chỉ ra các nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực này tại Việt Nam.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định và giải quyết bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Một là: Khảo sát, đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án ở trong và ngoài nước nhằm làm rõ kết quả đạt được, cơ sở lý luận, căn cứ khoa học và thực tiễn, từ đó xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết.
  2. Hai là: Trên cơ sở nền tảng lý luận chung về phòng ngừa tình hình tội phạm, tiến hành phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam.
  3. Ba là: Khảo sát, phân tích, làm rõ thực tiễn tình hình tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng; đi sâu phân tích nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, những thiếu sót, khó khăn, vướng mắc trong hoạt động phòng ngừa; dự báo tình hình tội phạm và các yếu tố tác động đến hiệu quả phòng ngừa.
  4. Bốn là: Đề xuất hệ thống quan điểm, mục tiêu và giải pháp mang tính khả thi nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa tội phạm ngân hàng nói riêng; hệ thống lý luận về phòng ngừa tình hình tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng; các quy định của pháp luật hiện hành; thực tiễn tổ chức và triển khai hoạt động phòng ngừa tội phạm tại hệ thống ngân hàng cấp 2 (các ngân hàng thương mại) đặt dưới sự quản lý nhà nước của ngân hàng cấp 1 (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Luận án tiếp cận dưới góc độ Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm. Do tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng không phải là một tội danh đơn lẻ mà là một khái niệm tội phạm học, tác giả giới hạn nghiên cứu các tội danh quy định tại Điều 206 (Tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng), Điều 207 (Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả) của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); kết hợp với các tội danh điển hình thường xảy ra trong lĩnh vực này gồm tội phạm về sở hữu (Điều 174, 175, 179) và tội phạm về chức vụ (Điều 354, 355, 356, 359).
    • Về không gian: Nghiên cứu thực tiễn phòng ngừa tình hình tội phạm trong ngành ngân hàng trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
    • Về thời gian: Khảo sát các quy định pháp luật hình sự từ năm 2010 đến nay (trọng tâm là Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) và thu thập, phân tích số liệu thực tiễn phòng ngừa tội phạm trong giai đoạn từ năm 2010 đến hết năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Các công trình nghiên cứu ngoài nước được tác giả phân nhóm và điểm luận chi tiết:

  • Về lý luận chung về phòng ngừa tội phạm: Giáo trình Tội phạm học (1998) của Tim Newbukin (Vương quốc Anh) với 6 phần, 36 chương phân tích hệ thống tư pháp hình sự và các biện pháp xã hội phòng ngừa tội phạm; cuốn Cơ sở lý luận của việc phòng ngừa tội phạm (1987) của Minkovskij G.M (NXB Moskva) nhấn mạnh bản chất xã hội của tội phạm và yêu cầu đồng bộ của các giải pháp kinh tế - xã hội; công trình Sách chuyên khảo - Tội phạm học (2006) của Dasetakob luận giải nguyên nhân, điều kiện phát sinh các loại tội phạm mới; sách Nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa tội phạm (1987) của Kudriavsev; và công trình Chiến lược phòng ngừa tội phạm tại Châu Âu và Bắc Mỹ (1997) của Jonh Graham phân định ba nhóm biện pháp: phòng ngừa cộng đồng, phòng ngừa xã hội và phòng ngừa tình huống.
  • Về phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng: Cuốn sổ tay Research Handbook on International Financial Crime do Barry Rider chủ biên nghiên cứu sâu về gian lận, tham nhũng và rửa tiền xuyên quốc gia; công trình Computer Crimes and Counter Measures in the Nigerian Banking Sector (2010) của Olasanmi Omoneye Olufunke khảo sát rủi ro gian lận thẻ tín dụng, ATM, thư rác tại Nigeria và vai trò của kiểm soát nội bộ; nghiên cứu Impact of Electronic crime in Indian Banking Sector – An Overview của M. Imran Siddique phân tích tội phạm công nghệ trong ngành ngân hàng Ấn Độ; bài viết White collar crime and the criminal justice system: Government response to bank fraud and corruption in China (2009) của Hongming Cheng đề xuất mô hình ba hướng (ngăn chặn, phòng ngừa, giáo dục) và đạo đức kinh doanh; bài viết của Lars Korsell (2001) về thực tiễn chống tội phạm kinh tế qua ba thập kỷ tại Thụy Điển (Three Decades of Researching and Combating Economic Crime – Swedish Case); công trình của Hazel Croall (2003) phân tích phương pháp kiểm soát tội phạm tài chính (Combating financial crime: regulatory versus crime control approaches); nghiên cứu của Silvia Lattová (2013) về bảo vệ tiền giấy trong thực tế ảo (Protection of banknotes in the virtual reality); và bài viết năm 2006 trên Tạp chí Nghiên cứu và Chính sách Quốc tế về vai trò của cơ quan điều tra tài chính khu vực tư nhân (FIA) trong phòng chống rửa tiền tại Canada.

Các hướng nghiên cứu trong nước

Tác giả tổng thuật hệ thống công trình trong nước thành hai nhóm chính:

  • Nhóm công trình lý luận tội phạm học: Giáo trình Tội phạm học (2015) của Trường Đại học Luật Hà Nội; giáo trình Tội phạm và cấu thành tội phạm (2015) của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa; giáo trình Tội phạm học (2013) của GS.TS Võ Khánh Vinh; sách Xã hội học tội phạm (2012) của Trần Đức Châm; công trình Kiểm soát xã hội đối với tội phạm (2014) của TS Trịnh Tiến Việt; sách chuyên khảo Tội phạm học so sánh (2015) của PGS.TS Lê Thị Sơn; các ấn phẩm Tội phạm ở Việt Nam năm 2011 – 2012 (2012) và Một số vấn đề lý luận và thực tiễn phòng ngừa tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa (2011) do GS.TS Nguyễn Xuân Yêm và cộng sự chủ biên; luận án tiến sĩ của Trần Xuân Huệ (2016) về đấu tranh phòng chống tội rửa tiền và của Hoàng Diệu Thúy (2016) về tội làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả.
  • Nhóm công trình về phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng: Sách chuyên khảo Phòng, chống các loại tội phạm ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (2005) của GS.TS Nguyễn Xuân Yêm; sách chuyên khảo Phòng chống tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam hiện nay (2013) của Nguyễn San Miên Nhuận và Nguyễn Xuân Trường; luận văn thạc sĩ của Phạm Văn Hiển về phòng ngừa tội danh theo Điều 206 Bộ luật Hình sự năm 2015; luận văn thạc sĩ của Trần Thị Hằng (2006) và của Trần Thị Thùy Trang (2020); Đề tài khoa học cấp nhà nước KX07.07 của Bộ Công an (2005) do Viện Khoa học Cảnh sát chủ trì về đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức; Kỷ yếu hội thảo khoa học của Học viện Ngân hàng ngày 05/7/2018 về quản trị công ty đối với ngân hàng thương mại cổ phần; cùng các bài báo chuyên ngành của Nguyễn Thị Kim Thoa (2017) về bảo mật thông tin khách hàng, Bùi Quang Tiên (2017) về tác động của cách mạng 4.0 tới thanh toán, Nguyễn Thị Thu Hương (2017) về tội phạm công nghệ cao trong ngân hàng, và Dương Tuyết Miên (2003) về đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy các nghiên cứu trước đây phần lớn dừng lại ở việc tiếp cận từ quy định hình sự của Bộ luật Hình sự năm 1999, khảo sát dữ liệu trước năm 2010, hoặc tiếp cận thuần túy về mặt kỹ thuật điều tra, giám định tiền tệ, quản trị kinh doanh. Rất ít công trình nghiên cứu trực diện và tổng thể về phòng ngừa tình hình tội phạm ngân hàng dưới lăng kính tội phạm học. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách: xác định rõ hệ khái niệm tội phạm và tình hình tội phạm ngân hàng theo mô hình ngân hàng hai cấp; đánh giá toàn diện số liệu thực tiễn giai đoạn 2010 - 2020 dưới tác động của Bộ luật Hình sự năm 2015; làm rõ nguyên nhân quản trị rủi ro, sơ hở quy trình nghiệp vụ và suy thoái đạo đức nghề nghiệp; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phòng ngừa xã hội và phòng ngừa chuyên ngành phù hợp với kỷ nguyên ngân hàng số và Cách mạng công nghiệp 4.0.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích

  • Khái niệm hoạt động ngân hàng và lĩnh vực ngân hàng: Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hoạt động ngân hàng bao gồm việc kinh doanh tiền tệ và cung ứng dịch vụ thanh toán. Lĩnh vực ngân hàng là tổng thể các quan hệ giữa Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng và các chủ thể xã hội trong hoạt động quản lý, điều tiết, kinh doanh tiền tệ và cung ứng dịch vụ. Luận án phân tích trên mô hình hệ thống ngân hàng hai cấp: cấp 1 là Ngân hàng Nhà nước (thực hiện quản lý vĩ mô, điều tiết chính sách tiền tệ, không vì mục tiêu lợi nhuận) và cấp 2 là các ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã (giao dịch trực tiếp với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận).
  • Khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng: Tác giả tiếp thu quan điểm của các nhà tội phạm học (GS. Nguyễn Ngọc Hòa, TS. Võ Khánh Vinh, Nguyễn Chí Dũng) để đưa ra định nghĩa: Phòng ngừa tình hình tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng là hoạt động do các cơ quan, tổ chức, cá nhân tiến hành bằng các biện pháp cần thiết, có chủ đích, tác động đến nguyên nhân, điều kiện của nhóm tội phạm này nhằm ngăn chặn, hạn chế, tiến tới loại bỏ các tội phạm này khỏi đời sống xã hội.
  • Đặc điểm phòng ngừa: Luận án xác lập 5 đặc điểm cơ bản: (1) Mang tính chất nhiệm vụ quốc gia và quốc tế do tính liên thông và nguy cơ gây phản ứng dây chuyền tiêu cực đến nền kinh tế; (2) Chủ thể phòng ngừa kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan bảo vệ pháp luật chuyên trách (Công an, Tòa án, Viện kiểm sát) với các cơ quan quản lý kinh tế chuyên ngành (Ngân hàng Nhà nước, Thanh tra giám sát ngân hàng, Kiểm toán Nhà nước); (3) Chú trọng đặc biệt tới các biện pháp kinh tế do nguồn gốc phát sinh tội phạm chủ yếu bắt nguồn từ lợi ích vật chất; (4) Gắn bó hữu cơ với hoạt động phòng ngừa tội phạm về tham nhũng, chức vụ và sở hữu; (5) Đòi hỏi cao về giáo dục đạo đức nghề nghiệp, kiểm soát quyền hạn và chế độ đãi ngộ đối với nhân sự ngành ngân hàng.
  • Cơ sở chính trị và pháp lý:
    • Cơ sở chính trị gồm Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 và Kết luận số 13-KL/TW ngày 16/8/2021 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Quyết định số 623/QĐ-TTg ngày 14/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 54/QĐ-NHNN ngày 18/01/2021 ban hành Quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng và tội phạm ngành ngân hàng.
    • Cơ sở pháp lý gồm Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, cùng 23 điều ước quốc tế đa phương và 40 hiệp định tương trợ tư pháp song phương mà Việt Nam đã ký kết (theo Công văn số 33/TANDTC-HTQT ngày 17/3/2021 của Tòa án nhân dân tối cao).
  • Nguyên tắc phòng ngừa: Hoạt động phòng ngừa quán triệt nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa (tuân thủ chặt chẽ thẩm quyền, thủ tục, tránh lạm quyền xâm phạm quyền con người), nguyên tắc dân chủ (phát huy vai trò giám sát, phát hiện và tố giác của quần chúng nhân dân và khách hàng) và nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa (lấy giáo dục, ngăn ngừa từ sớm từ xa làm trọng tâm).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp hệ thống phương pháp nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội:

  • Phương pháp điều tra xã hội học: Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến (bảng hỏi), tổ chức khảo sát cán bộ quản lý, nhân viên ngân hàng và cán bộ tư pháp để thu thập dữ liệu định lượng và định tính.
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết định kỳ của Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công an (Cục Cảnh sát kinh tế), Thanh tra Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao.
  • Phương pháp lịch sử: Theo dõi sự chuyển biến của chính sách tiền tệ, chế định pháp luật hình sự điều chỉnh tội phạm kinh tế - ngân hàng qua các thời kỳ.
  • Phương pháp thống kê: Phân loại, tổng hợp chuỗi số liệu về tình hình tội phạm, số vụ án khởi tố, truy tố, xét xử và các chỉ số thiệt hại giai đoạn 2010 - 2020.
  • Phương pháp so sánh luật học, phân tích tổng hợp, quy nạp và diễn dịch: Phân tích đối chiếu giữa các điều luật trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và 2015, so sánh kinh nghiệm lập pháp quốc tế (Nigeria, Ấn Độ, Trung Quốc, Thụy Điển, Canada), chỉ ra điểm tương đồng và bài học vận dụng cho Việt Nam.
  • Phương pháp dự báo khoa học: Phân tích xu hướng phát triển công nghệ tài chính (Fintech), dịch vụ ngân hàng trực tuyến để nhận diện phương thức phạm tội mới.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa và phân loại toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành các tuyến nội dung rõ rệt: lý luận tội phạm học chung; nghiên cứu tội phạm tài chính, máy tính và ngân hàng; các công trình luận án, luận văn tiếp cận dưới góc độ luật hình sự tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng đa số công trình trước năm 2015 dựa vào các quy định cũ của Bộ luật Hình sự năm 1999 và chỉ tập trung vào một tội danh cụ thể (như rửa tiền, tiền giả, hoặc cho vay sai quy định). Nghiên cứu sinh khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu tội phạm ngân hàng như một chỉnh thể phức hợp bao gồm vi phạm hoạt động ngân hàng, tội phạm chức vụ và tội phạm xâm phạm sở hữu xảy ra trong hệ thống tổ chức tín dụng dưới góc độ Tội phạm học.

Chương 2: Lý luận về phòng ngừa tình hình tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng

Chương này làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản:

  • Xác lập bản chất kinh tế của tội phạm ngân hàng: là các hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán cũng như quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý.
  • Phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc ngân hàng hai cấp với cơ chế phát sinh tội phạm: Ngân hàng Nhà nước ban hành cơ chế giám sát và kiểm tra; trong khi hệ thống ngân hàng thương mại cấp 2 trực tiếp thực hiện huy động vốn, giải ngân tín dụng, xử lý dòng tiền - nơi trực tiếp phát sinh các nguy cơ tiêu cực, sai phạm.
  • Luận giải cơ chế phòng ngừa tội phạm: bao gồm phòng ngừa chung (các biện pháp kinh tế, hoàn thiện thể chế, nâng cao đời sống cán bộ, giáo dục đạo đức) và phòng ngừa riêng (các biện pháp nghiệp vụ kiểm toán nội bộ, giám sát dòng tiền, thanh tra của ngành ngân hàng kết hợp với điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh của các cơ quan bảo vệ pháp luật).
  • Xác định hệ thống chủ thể phòng ngừa: Ngân hàng Nhà nước, Thanh tra giám sát ngân hàng, Kiểm toán Nhà nước, các ngân hàng thương mại, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và toàn thể quần chúng nhân dân.

Chương 3: Thực trạng phòng ngừa tình hình tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng

Chương 3 tập trung phân tích thực trạng tình hình tội phạm và thực tế triển khai các biện pháp phòng ngừa giai đoạn 2010 - 2020:

  • Diễn biến và mức độ thiệt hại: Số liệu của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2013 - 2021 cho thấy hàng trăm vụ án liên quan đến tín dụng, ngân hàng đã được đưa ra xét xử công khai. Báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao phản ánh tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, sở hữu và chức vụ trong lĩnh vực ngân hàng có xu hướng gia tăng qua từng năm cả về số vụ và tính chất nghiêm trọng.
  • Sự gia tăng của tội phạm sử dụng công nghệ cao: Luận án dẫn chứng số liệu phản ánh sự biến đổi của tội phạm sử dụng công nghệ cao trong hoạt động ngân hàng:
Tiêu chí thống kê Mức độ biến động giai đoạn 2011 – 2020
Số vụ án phát hiện, xử lý Tăng 269% so với năm gốc 2011
Số bị cáo bị khởi tố, xét xử Tăng 729% so với năm gốc 2011
Tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm Tăng 71,16%/năm so với năm liền kề
  • Thực trạng nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm ngân hàng:
    1. Về quản trị điều hành và kiểm soát, kiểm toán nội bộ: Mô hình tổ chức quản trị tại một số ngân hàng thương mại cổ phần còn nhiều bất cập, vai trò của Ban kiểm soát và hệ thống kiểm toán nội bộ mang tính hình thức, chưa kịp thời phát hiện và cảnh báo các dấu hiệu vi phạm trong quá trình thẩm định dự án.
    2. Về quy trình, quy định nội bộ: Tồn tại nhiều kẽ hở pháp lý trong các chính sách ưu đãi khách hàng lớn, môi giới tiền gửi, thỏa thuận lãi suất; áp lực doanh thu và tăng trưởng tín dụng nóng đã tạo điều kiện cho cán bộ vi phạm quy trình thẩm định tài sản bảo đảm.
    3. Về quản lý rủi ro tín dụng: Tình trạng cấp tín dụng vượt trần hạn mức cho phép đối với các khách hàng lớn, các tập đoàn sân sau, doanh nghiệp liên quan đến cổ đông chi phối diễn ra phức tạp.
    4. Về yếu tố con người: Sự suy thoái đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận lãnh đạo và cán bộ tín dụng; hiện tượng thông đồng, móc nối giữa nhân viên ngân hàng và đối tượng bên ngoài để lập hồ sơ khống, định giá nâng khống tài sản thế chấp nhằm chiếm đoạt tài sản.
  • Đánh giá hoạt động phòng ngừa: Hoạt động phòng ngừa đã bước đầu hoàn thiện cơ chế báo cáo giao dịch đáng ngờ và thanh tra chuyên ngành; tuy nhiên hiệu quả phối hợp liên ngành giữa ngân hàng và cơ quan tư pháp còn chậm trễ, việc phát hiện sai phạm chủ yếu dựa vào hậu kiểm khi thiệt hại đã phát sinh ở mức rất lớn.

Chương 4: Dự báo và các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng

Chương 4 đưa ra các dự báo khoa học và định hình hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa:

  • Dự báo bối cảnh và tình hình tội phạm mới: Dưới tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số, tội phạm truyền thống dịch chuyển mạnh sang không gian mạng. Xuất hiện các loại phần mềm độc hại nhắm vào dịch vụ ngân hàng trên thiết bị di động (mobile banking malware). Các hành vi đánh cắp dữ liệu khách hàng, làm giả thẻ ATM, chiếm đoạt mã OTP, gian lận Fintech gia tăng. Thành phần đối tượng phạm tội có sự tham gia của người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam và các đối tượng có trình độ chuyên sâu về công nghệ thông tin.
  • Các nhóm giải pháp đề xuất:
    1. Hoàn thiện khung khổ pháp luật: Tiếp tục rà soát, sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2015, bổ sung và hướng dẫn cụ thể các cấu thành tội phạm liên quan đến hoạt động ngân hàng mở rộng ngoài tín dụng (như hoạt động chuyển tiền điện tử quốc tế, đầu tư tài chính, phái sinh, thanh toán số); hoàn thiện chế tài xử lý tội phạm rửa tiền và tội phạm chức vụ trong các tổ chức tín dụng cổ phần.
    2. Nâng cao hiệu quả quản trị ngân hàng và kiểm soát nội bộ: Chuẩn hóa quy trình cấp tín dụng, thẩm định tài sản độc lập, loại bỏ triệt để tình trạng cấp tín dụng vượt hạn mức đối với các nhóm khách hàng liên quan; kiện toàn bộ máy thanh tra giám sát nội bộ tại từng tổ chức tín dụng.
    3. Giải pháp công nghệ và an ninh thông tin: Đầu tư hạ tầng bảo mật dữ liệu khách hàng, triển khai các giải pháp xác thực đa lớp, xây dựng hệ thống phần mềm cảnh báo sớm giao dịch bất thường để ngăn ngừa gian lận điện tử.
    4. Nâng cao phẩm chất cán bộ: Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp, minh bạch hóa trách nhiệm giải trình và xây dựng cơ chế đãi ngộ, kiểm soát quyền hạn đối với các vị trí phê duyệt tín dụng nhạy cảm.
    5. Tăng cường phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế: Thực hiện hiệu quả Quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng và tội phạm ngành ngân hàng; đẩy mạnh tương trợ tư pháp hình sự song phương và đa phương nhằm truy vết dòng tiền bất hợp pháp và dẫn độ tội phạm công nghệ cao xuyên quốc gia.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Về mặt lý luận: Luận án góp phần bổ sung, làm phong phú hệ thống lý luận tội phạm học chuyên sâu về phòng ngừa tình hình tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng. Công trình xác lập hệ khái niệm khoa học về tội phạm ngân hàng gắn với cấu trúc vận hành ngân hàng hai cấp; phân định rõ nội dung, đặc điểm, nguyên tắc, biện pháp và chủ thể của hoạt động phòng ngừa tội phạm trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Khảo cứu, tổng hợp và đánh giá có hệ thống thực trạng tình hình tội phạm trong ngành ngân hàng giai đoạn 2010 - 2020 trên cơ sở nguồn dữ liệu thực tế từ hệ thống Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân.
    • Phân tích sâu sắc các nguyên nhân, điều kiện phát sinh vi phạm từ cơ chế quản trị rủi ro tín dụng nội bộ, áp lực tăng trưởng, các kẽ hở quy trình nghiệp vụ và yếu tố con người.
    • Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp các cơ quan lập pháp hoàn thiện quy định pháp luật hình sự, pháp luật ngân hàng; đồng thời giúp Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại xây dựng kế hoạch, chiến lược phòng ngừa tội phạm thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi thực tiễn chủ yếu tại hệ thống các ngân hàng thương mại (ngân hàng cấp 2) dưới lăng kính quản lý của Ngân hàng Nhà nước (ngân hàng cấp 1); số liệu thực tiễn được giới hạn phân tích chuyên sâu trong mốc thời gian từ năm 2010 đến năm 2020; các nhóm tội danh nghiên cứu khu biệt vào Điều 206, Điều 207 và một số tội sở hữu, chức vụ phổ biến. Ngoài ra, do tính chất bảo mật của ngành ngân hàng và hiện tượng "tội phạm ẩn" trong lĩnh vực tài chính, các số liệu thống kê thu thập từ các vụ án đã xử lý chưa thể phản ánh toàn bộ các sai phạm tiềm ẩn trong thực tế hoạt động tín dụng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, khảo sát tác động của các mô hình ngân hàng số, ví điện tử, công nghệ chuỗi khối, tài sản ảo và các hành vi rửa tiền xuyên biên giới thế hệ mới phát sinh sau năm 2020; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kiểm soát tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia trong lĩnh vực tài chính quốc tế.

Giá trị tham khảo

  • Cơ quan xây dựng pháp luật và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học để rà soát, hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự (các điều khoản về tội phạm kinh tế, chức vụ trong lĩnh vực ngân hàng), Luật Các tổ chức tín dụng và Luật Phòng, chống rửa tiền.
  • Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo thực tiễn giúp các ngân hàng thương mại rà soát lại quy trình quản lý rủi ro tín dụng, củng cố hoạt động thanh tra, kiểm toán nội bộ và xây dựng quy tắc đạo đức nghề nghiệp cho nhân viên.
  • Cơ quan tiến hành tố tụng (Cảnh sát kinh tế, Viện kiểm sát, Tòa án): Giúp cán bộ thực tiễn nhận diện phương thức, thủ đoạn, nguyên nhân sai phạm trong các vụ án kinh tế, tín dụng phức tạp để nâng cao hiệu quả chứng minh tội phạm và kiến nghị phòng ngừa.
  • Cơ sở nghiên cứu, đào tạo: Phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn giáo trình và giảng dạy các chuyên đề về Tội phạm học, Luật Hình sự, Luật Ngân hàng tại các trường đại học, học viện khối ngành luật và kinh tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu những tội danh cụ thể nào trong Bộ luật Hình sự?

Luận án tiếp cận tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng dưới góc độ tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, tập trung vào hai tội danh chuyên ngành trực tiếp là Điều 206 (Tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng) và Điều 207 (Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả) của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); kết hợp nghiên cứu các tội danh liên quan chặt chẽ thường xảy ra tại các ngân hàng gồm: tội phạm về sở hữu (Điều 174 - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Điều 175 - Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Điều 179 - Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp) và tội phạm về chức vụ (Điều 354 - Nhận hối lộ, Điều 355 - Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, Điều 356 - Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, Điều 359 - Giả mạo trong công tác).

2. Tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao trong ngành ngân hàng có mức tăng trưởng như thế nào theo số liệu của luận án?

Theo số liệu được tác giả trích dẫn trong luận án, nếu lấy năm 2011 làm năm định gốc so sánh thì đến năm 2020:

  • Số vụ án tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng tăng 269%.
  • Số bị cáo bị truy tố, xét xử tăng 729%.
  • Trung bình hàng năm, loại tội phạm này có mức độ gia tăng so với năm trước liền kề là 71,16%.

3. Những vụ án sai phạm điển hình nào trong ngành ngân hàng được tác giả dẫn chứng?

Văn bản luận án dẫn chứng các vụ án điển hình gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng:

  • Vụ án chiếm đoạt 120.886 tỷ đồng xảy ra tại Chi nhánh Ngân hàng liên doanh Việt Nga.
  • Vụ án Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) Ninh Thuận xét duyệt hồ sơ vay vốn kích cầu và cấp chứng thư bảo lãnh sai đối tượng gây thất thoát 200 tỷ đồng.

4. Luận án chỉ ra những nhóm nguyên nhân cơ bản nào làm phát sinh tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng?

Tác giả xác định bốn nhóm nguyên nhân và điều kiện nảy sinh tội phạm:

  • Quản trị điều hành và kiểm soát nội bộ: Mô hình quản trị lỏng lẻo; hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ tại một số ngân hàng hoạt động hình thức, chưa kịp thời tham mưu cho ban điều hành và hội đồng quản trị.
  • Quy trình nghiệp vụ: Quy định nội bộ tồn tại nhiều sơ hở, chính sách ưu đãi khách hàng lớn và áp lực tăng trưởng lợi nhuận đã vô tình tạo điều kiện cho cán bộ vi phạm quy chế.
  • Quản lý rủi ro tín dụng: Tình trạng cấp tín dụng vượt hạn mức cho phép đối với các khách hàng lớn, tập đoàn sân sau.
  • Yếu tố con người: Sự suy thoái đạo đức nghề nghiệp, động cơ tư lợi của một bộ phận cán bộ tín dụng dẫn đến việc cấu kết với đối tượng bên ngoài làm giả hồ sơ để rút tiền ngân hàng.

5. Hoạt động phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng được xây dựng trên những nguyên tắc cơ bản nào?

Hoạt động phòng ngừa được tổ chức thực hiện dựa trên ba nguyên tắc xuyên suốt:

  • Nguyên tắc pháp chế: Mọi hoạt động phòng ngừa phải tiến hành trên cơ sở và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật (Hiến pháp, luật và văn bản dưới luật), bảo đảm giữ vững trật tự quản lý nhưng không xâm phạm quyền con người, quyền công dân và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức.
  • Nguyên tắc dân chủ: Phát huy vai trò giám sát, tố giác tội phạm và đóng góp ý kiến của các tầng lớp nhân dân, khách hàng và tổ chức xã hội đối với hoạt động ngân hàng.
  • Nguyên tắc nhân đạo: Lấy công tác phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm từ xa làm trọng tâm, hạn chế tối đa việc để thiệt hại vật chất và phi vật chất xảy ra đối với hệ thống kinh tế xã hội.

Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Đỗ Thị Minh Phượng là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về vấn đề phòng ngừa tình hình tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam từ góc độ Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm. Bằng việc phân tích cấu trúc ngân hàng hai cấp và khảo sát thực tiễn giai đoạn 2010 - 2020 dựa trên các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, tác giả đã làm rõ các diện mạo, phương thức sai phạm tín dụng truyền thống cũng như xu hướng gia tăng của tội phạm công nghệ cao. Công trình đã xác định chính xác các nguyên nhân cốt lõi về quản trị nội bộ, lỗ hổng quy trình nghiệp vụ và yếu tố con người, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phòng ngừa toàn diện từ hoàn thiện pháp lý, kiểm soát rủi ro đến ứng dụng kỹ thuật số. Kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn sâu sắc đối với các cơ quan quản lý nhà nước, hệ thống ngân hàng thương mại và các cơ quan tiến hành tố tụng tại Việt Nam.