Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc dânsau chuyển đổi mô hình hoạt động. Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc dân sau khi chuyển đổi mô hình hoạt động. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Các lý thuyết chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm cạnh tranh Theo K.Marx cạnh tranh là sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá trị nhằm tạo ra những ưu thế, mục tiêu xác định.
Marx phân tích cạnh tranh trên 3 khía cạnh là cạnh tranh giá trị thặng dư, cạnh tranh về chất lượng và cạnh tranh giữa các ngành.Mác, 1995) Theo Michael Porter thì “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm nguồn lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có”. (Michael Porter, 2002) Theo ông khi doanh nghiệp muốn cạnh tranh được tốt thì phải có lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh. Lợi thế cạnh tranh là sở hữu những giá trị đặc thù, là giá trị nội tại mà các doanh nghiệp khác không có nhàm để nắm bắt các cơ hội.
Lợi thế so sánh tạo cho doanh nghiệp đó những thuận lợi trong sản xuất và trong thương mại. Lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh gắn bó chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau. Với tư cách là động lực nội tại trong mỗi một chủ thể kinh doanh, cạnh tranh được cuốn Black’Law Dictionary diễn tả là “sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba”. Garner, Black’ Law Dictionary, 1999) Với tư cách là hiện tượng xã hội, theo cuốn Từ điển Kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992, cạnh tranh được định nghĩa là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” (Nguyễn Như Phát, TS.
Trần Đình Hảo, Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh hiện nay ở Việt Nam, NXB Công an nhân dân, 2001). Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn kinh tế 8 học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng: “Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition)”. Trong số các quan niệm về cạnh tranh thì quan niệm của Michael Porter là quan niệm được sử dụng phổ biến và rộng rãi nhất.
Cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế có những đặc trưng sau: - Mang bản chất của mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế với nhau. Nói đến cạnh tranh là nói đến một quá trình có sự tham gia của nhiều chủ thể. Nếu chỉ có một chủ thể (độc quyền) thì không có cạnh tranh nhưng nếu có nhiều chủ thể mà không cùng một mục tiêu thì cạnh tranh, sức ép cạnh tranh cũng giảm xuống. Do vậy, các chủ thể phải có cùng mục tiêu thì mới xảy ra cạnh tranh.
- Các chủ thể cạnh tranh đều phải tuân thủ những ràng buộc chung nhằm hướng tới sự cạnh tranh mang tính lành mạnh. - Phương pháp cạnh tranh rất đa dạng, không chỉ dừng lại ở việc bán giá thấp hay nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn bằng sự đa dạng về chủng loại sản phẩm, bằng các dịch vụ khách hàng… - Cạnh tranh diễn ra trong khoảng thời gian và không gian cố định.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh Theo Michael Porter thì năng lực cạnh tranh là khả năng chiếm lĩnh và mở rộng thị trường Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới. (Dương Ngọc Dũng, 2006) Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận này càng cao. Như vậy, năng lực canh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp.
Đấy là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính băng các tiêu chí về công nghệ, tài 9 chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,. một cách riêng biệt mà đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng lĩnh vực, cùng một thị trường. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện được những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Vậy theo tác giả năng lực cạnh tranh là khả năng duy trì và nâng cao các ưu thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác nhàm chiếm lĩnh thị trường, gia tăng lợi nhuận và phát triển bền vững 1.2 Ngân hàng thƣơng mại vàcạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm NHTM Ngân hàng từ lâu đã trở thành một khái niệm quen thuộc với đại bộ phận dân cư bởi sự tham gia sâu rộng của ngân hàng vào nền kinh tế quốc gia.Ngân hàng với lịch sử hình thành và phát triển lâu đời là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế.
Theo quan điểm của giáo sư Peter S. Rose thuộc Đại học Texas A&M (Hoa Kỳ):“Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Rose, 1994) Theo luật các tổ chức tín dụng, ngày 16/06/2010, NHTM được định nghĩa “làmột định chế tài chỉnh mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp dịch vụ thanh toán". Như vậy, NHTM có những hoạt động cơ bản như sau: - Hoạt động tín dụng: Đây là hoạt động cơ bản và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.
Bao gồm: + Hoạt động huy động vốn: Hoạt động huy động vốn thực hiện chức năng 10 tạo thêm nguồn vốn kinh doanh cho ngân hàng. Về phía khách hàng, bên cạnh việc được hưởng lợi tức, khách hàng còn được cung ứng các dịch vụ khác như dịch vụ về ngân quỹ, thu chi tài chính, phát hành séc .v… Nhóm hoạt động này bao gồm: Dịch vụ nhận tiền gửi tiết kiệm và thanh toán, phát hành các loại giấy tờ có giá, vay của NHTW và các TCTD khác. + Hoạt động cho vay: Hoạt động cho vay nhằm thực hiện chức năng cấp tín dụng, nguồn tài chính nhằm đáp ứng các nhu cầu sử dụng vốn khác nhau của các chủ thể trong nền kinh tế. Bao gồm các hoạt động như chiết khấu các giấy tờ có giá, cho vay tiêu dùng, cho vay đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, cho thuê tài chính.
- Nhóm dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác: Các NHTM đang chú trọng phát triển nhóm dịch vụ này vì thu nhập của nhóm khá cao nhưng có mức độ rủi ro thấp hơn so với nhóm dịch vụ sử dụng vốn. Trong tương lai, tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ sẽ tăng mạnh. Một số dịch vụ chính: + Thanh toán trong nước, thu chi hộ và quản lý ngân quỹ. + Thanh toán quốc tế và trao đổi ngoại hối.
+ Các dịch vụ khác như môi giới đầu tư chứng khoán, bảo quản vật có giá, dịch vụ ủy thác, tư vấn tài chính,…. Hoạt động Ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt trong số các loại hình kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Cấu trúc tài sản, cơ cấu vốn kinh doanh và nguồn sinh lợi nhuận có tính đặc thù riêng. Khách hàng vừa là nhà cung ứng vừa là người tiêu thụ.
Quan hệ với khách hàng chủ yếu dựa trên cơ sở tín nhiệm lẫn nhau. Chế độ bảo hộ độc quyền cho dịch vụ ngân hàng hầu như không có. Bên cạnh đó, môi trường hoạt động của NHTM nhạy cảm với thông tin và có tính hợp tác cao, chịu tác động lớn của các yếu tố bên ngoài và chịu sự chi phối mạnh của yếu tố công nghệ. Do đó cạnh tranh của ngân hàng chính là chủ thể Ngân hàng cùng với nghệ thuật sử dụng tổng hợp các phương thức, yếu tố,… nhằm giành được phần thắng trên thị trường, với lợi nhuận cao nhất, nâng cao vai trò và vị thế của mình trên thị trường.
Cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1. Các loại hình cạnh tranh của NHTM Cạnh tranh giữa ngân hàng và các định chế tài chính phi ngân hàng: Định chế tài chính phi ngân hàng bao gồm các công ty tài chính và cho thuê tài chính, quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ, công ty chứng khoán và bảo hiểm,… là các tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ, được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thương xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn và làm dịch vụ thanh toán. Như vậy sự canh tranh ở đây đơn thuần chỉ là cạnh tranh về hoạt động cho vay, tuy nhiên các định chế tài chính phi ngân hàng không thể đủ sức cạnh tranh vì phạm vi hoạt động đã giới hạn hơn ngân hàng rất nhiều. Cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước và các ngân hàng nước ngoài: Thực tế từ khi mở cửa thị trường tài chính đến nay thì sự cạnh tranh này mới phát sinh.
Ban đầu, nhóm các ngân hàng nước ngoài thường lựa chọn phục vụ cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt nam và tìm kiếm thị trường bán lẻ nội địa nhiều hơn (cho vay tiêu dùng, cho vay thẻ,…), thị phần thậm chí còn vượt hẳn so với các ngân hàng thương mại trong nước. Quy trình thực hiện rất bài bản và chuyên nghiệp, hoạt động kinh doanh hiệu quả và ít rủi ro hơn.