Chương 1: Một số vấn đề lí luận về cạnh tranh và NLCT dịch vụ chuỗi CH cung cấp thực phẩm đồ ăn nhanh ở Việt Nam Chương 2. Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ của chuỗi cửa hàng BurgerKing trên địa bàn Hà Nội Chương 3. Quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ của chuỗi cửa hàng BurgerKing trên địa bàn Hà Nội. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC VÀ NĂNG LỰC CANH TRANH DỊCH VỤ CHUỖI CỬA HÀNG CUNG CẤP THỰC PHẨM ĐỒ ĂN NHANH Ở VIỆT NAM 1.
Một số khái niệm và lý luận cơ bản 1. Khái niệm cửa hàng và chuỗi cửa hàng cung cấp thực phẩm đồ ăn nhanh 1. Khái niệm cửa hàng ăn uống Nhà hàng/cửa hàng ăn uống: Là nơi kinh doanh các món ăn, đồ uống có chất lượng cao, có trang thiết bị và chất lượng phục vụ tốt, đáp ứng được mọi đối tượng khách, và là các cơ sở kinh doanh có mức vốn pháp định theo quy định của từng loại hình doanh nghiệp (Thông tư liên bộ số 27/LBTCDL ngày 10/1/1996). Với cách nhìn nhận này nhà hàng(cửa hàng) chính là một cơ sở kinh doanh pháp lý, nó có thể mang tư cách độc lập như một doanh nghiệp hoặc có thể là một bộ phận trong khách sạn hay cơ sở kinh doanh du lịch.
Hoạt động chủ yếu của nhà hàng là chế biến và phục vụ các sản phẩm ăn uống đáp ứng các nhu cầu thiết yếu và các nhu cầu khác của khách hàng với mục đích thu lợi nhuận. Vì thế tùy vào sản phẩm cũng như phương thức cung cấp và phục vụ khách hàng mà có thể tồn tại các loại hình nhà hàng ăn uống khác nhau 1. Phân loại Tại Việt Nam hiện nay thường phân định các loại hình nhà hàng theo một số tiêu chí như: Căn cứ vào mức độ liên kết + Nhà hàng độc lập là nhà hàng tồn tại có tư cách pháp nhân riêng không phụ thuộc khách sạn hay cơ sở kinh doanh du lịch nào, tự chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên loại hình này thường gặp khó khăn khi tạo dựng thương hiêu, uy tín thu hút khách hàng và hạn chế trong việc phát triển kinh doanh đặc biệt về vốn và nhân lực.
+ Nhà hàng phụ thuộc là nhà hàng không tồn tại riêng rẽ mà sẽ trực thuộc một cơ sở kinh doanh nào đó với tư cách là đơn vị thành viên ví dụ các nhà hàng thuộc khách sạn, công ty du lịch. Quy mô nhà hàng 11 Đánh giá theo cơ sở vật chất và khả năng phục vụ khách hàng của nhà hàng đó, đơn giản là thông qua số lượng chỗ nhà hàng có thể cung cấp cho khách hàng trong cùng một thời điểm. Ta có thể chia ra 3 loại: + Nhà hàng nhỏ: cung cấp dưới 50 chỗ ngồi + Nhà hàng trung: Cung cấp từ 50- 150 chỗ ngồi + Nhà hàng lớn: Cung cấp trên 150 chỗ ngồi Chất lượng phục vụ + Nhà hàng bình dân: nhà hàng có chất lượng đồ ăn và phục vụ khiêm tốn, sản phẩm không đa dạng giá cả thấp phục vụ đối tượng khách hàng thu nhập thấp + Nhà hàng tiêu chuẩn: Nhà hàng đạt một số tiêu chuẩn nhất định, sản phẩm tương đối đa dạng, giá cả cao hơn nhà hàng bình dân phục vụ đối tượng trung lưu trong xã hội + Nhà hàng cao cấp: Nhà hàng với chất lượng phục vụ và chất lượng sản phẩm cao cấp với giá cả cao phục vụ đối tượng thượng lưu trong xã hội thường ở trong các khách sạn cao cấp. Hình thức phục vụ Đây là cách phân loại phổ biến nhất trong hoạt động kinh doanh ăn uống, theo tiêu thức này ta có các loại hình nhà hàng sau: + Nhà hàng chọn món(a lacarte): Nhà hàng cung cấp thực đơn đa dạng phong phú phù hợp với nhiều sự lựa chọn của khách hàng, thường được chú trọng trong cách trình bày, chế biến thức ăn cũng như phong cách phục vụ và trang trí nhà hàng đặc biệt cao cấp hơn + Nhà hàng định suất: Nhà hàng định trước và đặt trước về giá cả thực đơn thường phục vụ theo nhó, theo đoàn + Nhà hàng tự phục vụ: Nhà hàng mà khách hàng có thể tự chọn lựa các đồ ăn thức uống cho mình với giá cả khác nhau + Nhà hàng phục vụ tiệc: Nhà hàng phục vụ tổ chức các bữa tiệc lớn như đám cưới, hội nghị tổng kết + Nhà hàng ăn nhanh: Nhà hàng phục vụ nhu cầu ăn nhanh theo thói quen công nghiệp, thức ăn có thể được chế biến và phục vụ cho người ăn rất nhanh chóng, thực phẩm được bán tại một nhà hàng hoặc cửa hàng với các thành phần làm nóng trước hoặc được nấu sẵn, và phục vụ cho khách hàng trong một hình thức 12 đóng gói mang đi.
Chuỗi cửa hàng thực phẩm đồ ăn nhanh Chuỗi cửa hàng thực phẩm đồ ăn nhanh được hiểu đơn giản chính là hệ thống phân phối đồ ăn nhanh bao gồm các cửa hàng dưới cùng một thương hiêu, cung cấp chất lượng sản phẩm và phong cách bài trí phục vụ như nhau phủ sóng khắp các khu vực có nhu cầu. Các cửa hàng „fast food“ (đồ ăn nhanh) thường được phân bố ở các đường có mật độ người đi lại cao hoặc mở tại các trung tâm thương mại nổi tiếng, khu vui chơi giải trí hoặc địa điểm du lịch nổi tiếng. Vì thế hình thành cơ bản hai mô hình kinh doanh thực phẩm đồ ăn nhanh: + Mô hình thứ nhất là kinh doanh tại các khu phố sầm uất, ngã ba ngã tư. Hình thức này phù hợp với các thương hiệu đồ ăn nhanh đã có tên tuổi, tiềm lực tài chính lớn và có sức hút đối với đối tượng khách hàng giới trẻ + Mô hình thứ hai là kinh doanh trong các khu vui chơi giải trí, trung tâm thương mại lớn với giá thành mặt bằng tương đối phù hợp, dành cho các thương hiệu mới đang xây dựng tên tuổi.
Một số thương hiệu mạnh xây dựng chuỗi cửa hàng của mình mang tính rộng khắp kết hợp cả hai mô hình kinh doanh trên nhằm thực hiện chiến lược bao phủ thị trường mục tiêu ví dụ như Lotteria, KFC,. Hệ thống chuỗi cửa hàng đồ ăn nhanh được cho là hệ thống cửa hàng có sự phát triển nhanh chóng, dày đặc và rộng lớn nhất so với các ngành khác. Bên cạnh đó nó có các tiêu chuẩn riêng về bảng hiệu, món ăn dịch vụ đi kèm, công thức chế biến. Ngoài ra, chuỗi cửa hàng đồ ăn nhanh có đặc trưng khác biệt so với hệ thống phân phối sản phẩm khác đó là phân phối theo chiều ngang, ở tất cả các cửa hàng trên toàn cầu đều cung cấp các sản phẩm cùng chất lượng, giá cả cũng như thiết kế bài trí, tiêu chuẩn phục vụ như nhau.
Khái niệm cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Khái niệm cạnh tranh ra đời khi nền kinh tế thị trường xuất hiện. Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh: Các nhà kinh tế học thuộc trường phái cổ điểncho rằng cạnh tranh là quá trình bao gồm các hành vi phản ứng. Quá trình này tạo ra trong mỗi thành viên trong thị 13 trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình.
Cạnh tranh theo hàm nghĩa kinh tế học là chỉ quá trình tranh đấu tiến hành không ngừng giữa các chủ thể kinh tế trong thị trường nhằm thực hiện lợi ích kinh tế và mục tiêu đã định của bản thân. Động lực nội tại của cạnh tranh là lợi ích kinh tế của tự thân chủ kinh tế, biểu hiện cụ thể trong quá trình cạnh tranh là giữ hoặc mở rộng mức chiếm hữu thị trường, gia tăng mức tiêu thụ, nâng cao lợi nhuận. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam " Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung -cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất" [10, tr357]. Cạnh tranh buộc những người sản xuất và buôn bán phải cải tiến kĩ thuật, tổ chức quản lí để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hoá, thay đổi mẫu mã, bao bì phù hợp với thị hiếu của khách hàng; giữ tín nhiệm; cải tiến nghiệp vụ thương mại và dịch vụ, giảm giá thành, giữ ổn định hay giảm giá bán và tăng doanh lợi.
Theo Karl Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.13] Với cách tiếp cận này, mục tiêu cuối cùng của cạnh tranh là lợi nhuận siêu ngạch của nhà tư bản thông qua việc đấu tranh để tận dụng và khai thác các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa. Cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp, các ngành, các quốc gia cùng sản xuất một loại hàng hóa, dịch vụ trên cùng một thị trường để giành được nhiều khách hàng, nhằm tạo ra những điều kiện có lợi nhất trong việc sản xuất tiêu thụ hàng hóa dịch vụ với lợi nhuận cao nhất. Do vậy, nhà kinh tế học P.Samuelson lại cho rằng: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng, thị trường”.14] Như vậy qua các khái niệm đã nêu ở trên ta có thể hiểu một cách đầy đủ: Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nhìn ở góc độ thị trường, theo Tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm: Cạnh tranh trong thị trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách 14 hàng những giá trị gia tăng cao hơn và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ cạnh tranh của mình.
Trong cuộc tranh tài giữa các doanh nghiệp để phục vụ khách hàng mỗi ngày tốt hơn, doanh nghiệp nào hài lòng với vị thế trên thị trường sẽ rơi vào tình trạng tụt hậu và sẽ bị đào thải với một vận tốc nhanh không thể ngờ trong một thị trường thế giới càng ngày càng nhiều biến động.