CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING 1. TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC 1. Khái niệm về chiến lược Có rất nhiều khái niệm về chiến lược, nhưng khái niệm được công nhận nhiều nhất là theo Johnson và Scholes: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm dành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan”.10] Còn theo định nghĩa với 5 chữ P của Mintzberg thì chiến lược bao gồm: Kế hoạch (Plan): chuỗi các hành động đã dự định một cách nhất quán; Mô thức (Partern): sự kiên định về hành vi theo thời gian, có thể là dự định hay không dự định; Vị thế (Position): phù hợp giữa tổ chức và môi trường của nó; Quan niệm (Perspective): cách thức để nhận thức sâu sắc về thế giới; Thủ thuật (Ploy): cách thức cụ thể để đánh lừa đối thủ. Hệ thống chiến lược trong công ty Không chỉ bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau, định nghĩa chiến lược còn khác nhau ở nhiều cấp độ, tối thiểu có 3 mức độ được nhận diện, đó là chiến lược công ty, chiến lược đơn vị kinh doanh và chiến lược chức năng.
Chiến lược công ty Chiến lược cấp công ty hướng tới mục đích và phạm vi tổng thể của tổ chức để đáp ứng mong đợi của các cổ đông. Chiến lược của công ty liên quan đến tất cả các hoạt động, sản phẩm, dịch vụ và thị trường của công ty. Chiến lược này được các lãnh đạo cấp cao đề ra trước khi bắt đầu một lĩnh vực kinh doanh, và nó là kim chỉ nam, là điểm tham chiếu để đánh giá các mục tiêu, 7 chiến lược của tổ chức. Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh Chiến lược tổng thể các cam kết và hành động giúp công ty giành lợi thế cạnh tranh bằng cách khai thác năng lực cốt lõi của họ vào những thị trường sản phẩm cụ thể.
Chiến lược chức năng (chiến lược hoạt động) Các chiến lược này là công cụ hỗ trợ cho chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và cấp công ty thực hiện một cách hữu hiệu nhờ các bộ phận cấu thành trên phương diện các nguồn lực, các quá trình, con người và các kỹ năng cần thiết. Chiến lược marketing là một trong những chiến lược chức năng 1. Hoạch định chiến lược Hoạch định chiến lược là phân tích những sự kiện xảy ra trong quá khứ để xác định trong hiện tại những điều cần phải đạt được ở tương lai. Hoạch định chiến lược trình bày những mục tiêu mà công ty mong muốn đạt được, những cách thức và các nguồn lực cần phải có để đạt được mục tiêu, nhân sự thực hiện và thời gian cần thiết để tiến hành.
Mục đích của việc hoạch định chiến lược là xác lập, duy trì và phát triển các đơn vị kinh doanh và các sản phẩm của công ty, để chúng đem lại lợi nhuận và mức tăng trưởng mục tiêu. Hoạch định chiến lược dựa trên 3 ý tưởng chủ yếu: (1) Quản trị các đơn vị kinh doanh chiến lược (SBU) như một danh mục đầu tư, theo đó công ty phải quyết định những đơn vị kinh doanh nào cần được xây dựng, duy trì, thu hẹp từng bước hay chấm dứt hoạt động; (2) Tiên lượng tiềm năng sinh lời tương lai của các đơn vị kinh doanh, trên cơ sở nghiên cứu tỷ lệ tăng trưởng của thị trường và vị trí, mức độ tương ứng của công ty; (3) Đối với các đơn vị kinh doanh của mình, công ty cần xây dựng một kế hoạch dài hạn nhằm đạt được các mục tiêu lâu dài. DÒNG SẢN PHẨM VÀ CHIẾN LƯỢC MARKETING CHO MỘT DÒNG SẢN PHẨM 1. Dòng sản phẩm và các quyết định về dòng sản phẩm a.
Khái niệm về dòng sản phẩm Dòng sản phẩm là một nhóm các sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với nhau vì chức năng của chúng tương tự nhau và cùng được bán đến một số nhóm khách hàng và được tiếp thị qua cùng một kênh hoặc nằm trong cùng một mức giá nào đó. Các quyết định về dòng sản phẩm b1. Độ dài dòng sản phẩm Đây là quyết định số mặt hàng trong dòng sản phẩm, chịu sự tác động của các mục tiêu và nguồn lực của công ty. Mục tiêu chủ yếu trong thiết kế dòng sản phẩm là để bán được hàng cho nhiều phân đoạn thị trường với nhiều đẳng cấp khác nhau.
Những công ty tìm kiếm thị phần cao và tăng trưởng nhanh sẽ dử dụng dòng sản phẩm dài hơn. Trong khi đó, những công ty chú trọng vào tỉ suất sinh lợi cao sẽ có chiến lược sử dụng dòng ngắn hơn với những mặt hàng được lựa chọn một cách cẩn thận. Công ty có thể quyết định độ dài của dòng sản phẩm bằng hai cách: (1) Quyết định dãn dòng sản phẩm; (2) Quyết định bổ sung dòng sản phẩm. Chiến lược tinh giản dòng sản phẩm Khi dòng sản phẩm của công ty quá nặng để quản lý một cách hiệu quả do số lượng và sự đa dạng của các sản phẩm và dịch vụ cung ứng thì công ty có thể thực hiện tinh giản dòng sản phẩm.
Đây là một chiến lược bảo vệ nhằm giữ cho dòng sản phẩm được ổn định và đặc biệt có ý nghĩa khi chi phí gia tăng và nguồn lực hạn chế. Hiện đại hóa dòng sản phẩm Dòng sản phẩm cũng cần phải hiện đại hóa, đặc biệt trong những thị 9 trường sản phẩm thay đổi nhanh chóng thì hiện đại hóa cần tiến hành liên tục. Các công ty lập kế hoạch cải thiện sản phẩm nhằm khuyến khích khách hàng làm quen với những sản phẩm có giá trị cao hơn và mức giá cao hơn. Các khái niệm về chiến lược marketing a.
Khái niệm marketing chiến lược Theo quan điểm marketing định hướng giá trị, marketing chiến lược là giai đoạn đầu tiên trong chuỗi cung ứng giá trị, bao gồm phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu và định vị giá trị. Khái niệm chiến lược marketing Chiến lược marketing là hệ thống lý luận (logic) marketing nhờ đó một đơn vị kinh doanh hi vọng đạt được các mục tiêu marketing của mình. Chiến lược marketing bao gồm các chiến lược chuyên biệt liên quan đến nhận diện cơ hội, lựa chọn những thị trường mục tiêu, định vị sản phẩm, marketing - mix và ngân sách marketing. Ở bất kỳ thời điểm nào và cho dù quy mô lớn hay nhỏ thì công ty đều cần có chiến lược marketing để thực hiện tốt tất cả các dự án marketing, vừa tạo ra cơ sở để thuyết phục những bên hữu quan, vừa là điểm tựa để công ty tập trung nguồn lực để có thể cạnh tranh với những đối thủ khác.
Có ba căn cứ chủ yếu để xây dựng chiến lược marketing là: (1) Căn cứ vào khách hàng; (2) Căn cứ vào khả năng của doanh nghiệp; (3) Căn cứ vào đối thủ cạnh tranh Vấn đề cơ bản mà mỗi công ty cần phải giải quyết khi lựa chọn chiến lược kinh doanh đó là: Họ sẽ cung cấp cho khách hàng sản phẩm hay dịch vụ nào? Cách thức tạo ra các sản phẩm và dịch vụ ấy và làm cách nào để đưa các sản phẩm và dịch vụ đến khách hàng? Điều ấy được mỗi công ty chú trọng khi xây dựng chiến lược cho từng SBU. Do đó, thiết lập một chiến lược 10 marketing cho các SBU là vô cùng quan trọng, là chìa khóa để công ty tạo dựng lợi thế so với đối thủ cạnh tranh. Khách hàng được coi là nền tảng cho sự thành công của các chiến lược SBU. Abell để xây dựng chiến lược SBU phải bao gồm 3 yếu tố: (1) nhu cầu của khách hàng, (2) các nhóm khách hàng được thỏa mãn, (3) các khả năng khác biệt hóa hay cách thức mà nhu cầu của khách hàng được thỏa mãn.
Vai trò và quan điểm đổi mới trong chiến lược marketing c1. Vai trò của chiến lược marketing Chiến lược marketing là chiến lược chức năng, được xem là nền tảng có định hướng cho việc xây dựng các chiến lược chức năng khác trong doanh nghiệp. Chiến lược marketing thể hiện những chỉ dẫn trong hoạt động marketing của doanh nghiệp từ việc chọn chiến lược phát triển, chiến lược cạnh tranh đến xây dựng các hoạt động cụ thể để đơn vị kinh doanh đạt được các mục tiêu, kế hoạch của mình. Quan điểm đổi mới trong chiến lược marketing Chiến lược marketing phải được doanh nghiệp thực hiện tốt để tạo ra sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh trên cơ sở sử dụng những lợi thế làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng tốt hơn đối thủ cạnh tranh trong những phân đoạn đã được chọn.
Để tạo được lợi thế cạnh tranh thông qua chiến lược marketing, doanh nghiệp có thể sử dụng một trong bốn cách sau: + Đạt được sự vượt trội về hiệu quả Công ty càng hiệu quả thì càng sử dụng ít đầu vào để tạo nên một đơn vị đầu ra, vì vậy chi phí giá đầu ra thấp và do đó có hiệu quả hơn đối thủ cạnh tranh khi có nâng suất cao hơn. Vậy, vai trò của marketing thực hiện tạo ra giá trị để đạt sự hiệu quả vượt trội là: - Nơi tập hợp áp dụng các chiến lược tấn công để dịch chuyển nhanh 11 xuống phía dưới đường cong kinh nghiệm. - Hạn chế tỉ lệ bỏ đi của khách hàng bằng cách tạo dựng lòng trung thành. + Đạt được chất lượng vượt trội Chất lượng vượt trội đem đến cho công ty hai lợi thế: - Nâng cao danh tiếng về chất lượng khiến công ty phải nỗ lực nâng phần giá trị tăng thêm trong sản phẩm hướng tới khách hàng.
- Tránh các khuyết tật trong quá trình sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất cho phép công ty có chi phí thấp với sản phẩm tốt và đồng đều về chất lượng. + Đạt được sự cải tiến vượt trội Trên nhiều phương diện, cải tiến là một khối tạo ra lợi thế cạnh tranh. Việc cải tiến thành công một sản phẩm hoặc một quá trình sẽ giúp cho doanh nghiệp có điểm độc đáo mà đối thủ cạnh tranh không có. Tính độc đáo cho phép công ty đòi hỏi phần thưởng về giá hay có cấu trúc chi phí thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Ở đây, vai trò của marketing là: - Cung cấp các thông tin thị trường cho bộ phận nghiên cứu và phát triển. - Làm việc với bộ phận R&D để phát triển sản phẩm mới + Đạt được sự đáp ứng khách hàng vượt trội Đáp ứng khách hàng vượt trội có nghĩa là đem đến cho khách hàng những gì họ muốn một cách đúng lúc với điều kiện khả năng sinh lời của công ty không bị tổn thất khi thực hiện điều này.