Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỂ C ơ BẢN VỂ CHIÊN LƯỢC KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Đ ố i VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. TỔNG QUAN VỂ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp 1. Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức kinh doanh, có tư cách pháp nhân, thực hiện hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ và trao đổi hàng hoá trên thị trường theo nguyên tắc tối đa hoá lợi ích kinh tế của người chủ sở hữu về tài sản của doanh nghiệp, thông qua đó tối đa hoá lợi ích của đối tượng tiêu dùng và kết hợp một cách hợp lý với mục tiêu xã hội.
[5] Như vậy, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo đúng quy định của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Phân loại doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, các loại hình doanh nghiệp thường rất đa dạng, phong phú. Để phân loại các doanh nghiệp thường dựa vào các tiêu chí sau: Một là: Dựa vào tính chất sở hữu thì doanh nghiệp được chia thành. - Doanh nghiệp nhà nước: Là doanh nghiệp do nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý nó với tư cách là chủ sở hữu.
- Doanh nghiệp tư nhân: Là những doanh nghiệp do cá nhân đầu tư vốn và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. - Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp: Là các doanh nghiệp có đan xen của 5 các hình thức sở khác nhau trong cùng một doanh nghiệp. Các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp cổ phần là những hình thức đặc trưng của loại hình doanh nghiệp này trong nền kinh tế thị trường. Hai là: Dựa vào lĩnh vực (ngành nghề) kinh doanh, các doanh nghiệp có thể chia thành doanh nghiệp tài chính, doanh nghiệp phi tài chính.
- Doanh nghiệp tài chính: Là các tổ chức tài chính trung gian như các NHTM, Công ty tài chính, công ty bảo hiểm. Những doanh nghiệp này có khả năng cung ứng cho nền kinh tế các loại dịch vụ về tài chính, tiền tệ, tín dụng, bảo hiểm. Chức năng chủ yếu của loại hình doanh nghiệp này là làm môi giới thu hút và chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu để đầu tư phát triển kinh tế. - Doanh nghiệp phi tài chính: Là doanh nghiệp lấy sản xuất kinh doanh sản phẩm và dịch vụ làm hoạt động chính; bao gồm các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong các ngành nghề như xây dựng cơ bản, nông nghiệp, công nghiệp và thương mại, dịch vụ.
Chức năng chủ yếu của loại hình doanh nghiệp này là sản xuất các sản phẩm, hàng hoá hoặc làm dịch vụ phi tài chính, đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế. Việc phân loại theo tiêu chí này giúp nhà nước có thêm căn cứ để hoạch định các chính sách quản lý phù hợp với mọi loại hình doanh nghiệp trong lĩnh vực trong từng ngành nghề. Ba là: Dựa vào mục đích kinh doanh, có thể chia ra doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích. - Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh: Là tổ chức kinh tế do nhà nước thành lập hoặc thừa nhận, hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường.
Mục tiêu số một của loại doanh nghiệp này là tối đa hoá lợi nhuận. - Doanh nghiệp hoạt động công ích (Thường là doanh nghiệp nhà nước): Là tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động về sản xuất, lưu thông hay 6 cung cấp các dịch vụ công cộng, trực tiếp thực hiện chính sách xã hội của nhà nước hoặc thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc phòng nhưng doanh nghiệp này không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục đích hiệu quả xã hội là chính; Ví dụ như: Công ty vệ sinh môi trường, Công ty công viên cây xanh. Phân loại theo tiêu chí này có cơ sở để lựa chọn tiêu thức đánh giá lợi ích xã hội của doanh nghiệp cho hợp lý và là căn cứ quan trọng để xác định chính sách tài trợ của nhà nước. Bốn là: Dựa vào cấp quản lý có doanh nghiệp Trung ương, doanh nghiệp địa phương.
Đây là những doanh nghiệp do nhà nước thành lập và quản lý nhưng được phân cấp quản lý là doanh nghiệp do Trung ương quản lý và những doanh nghiệp do địa phương quản lý. Năm là: Dựa vào quy mô doanh nghiệp để phân chia thành doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Việc quy định thế nào là doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi nước, từng giai đoạn phát triển kinh tế cụ thể của xã hội. Tiêu chí xếp loại doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Tiêu chí xác định DNNVV ở một sô nước Qua tham khảo kinh nghiệm của một số nước, tiêu chí xác định DNNVV thường dựa vào các yếu tố: Vốn, lao động, doanh thu, tuy nhiên từng nước có thể chỉ dùng một hay hai hoặc cả ba yếu tố này. Ngoài ra, một số nước còn tuỳ từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà có những quy định khác nhau cho các tiêu chí. Bên cạnh đó việc lượng hoá các tiêu thức để phân loại quy mô doanh nghiệp còn tuỳ thuộc vào những yếu tố sau: - Trình độ phát triển kinh tế- xã hội của mỗi nước và những quy định cụ thể phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn. - Ngành nghề khác nhau thì chỉ tiêu độ lớn của các tiêu thức cũng khác nhau.1: Tiêu chí xác định DNNVV ở một sô nước.
Nước Sô lao động Vốn Inđônêxia <100 <0,6 tỷ Rupi Singapo <100 <499 triệu đô la sigapo Thái Lan <100 <200 Bath Hàn Quốc <300 trong CN, XD <0,6 triệu USD <200 trong TM&DV <0,25 triệu USD Đài Loan <300 trong CN, XD <1,6 triệu USD <50 trong TM&DV <1,6 triệu USD Hông Kông <100 trong CN <50 trong TM&DV <300 trong s x <100 triệu yên Nhật Bản <100 trong bán buôn <20 triệu yên <50 trong bán lẻ <10 triệu Yên Mêhicô <250 <7 triệu USD Mỹ <500 <20 triệu USD Canada <500 EU <250 <27 triệu ECU Nguồn: [2l ĩ Sự khác nhau về tiêu chí xác định DNNVV của các nước là hoàn toàn khách quan, do mỗi nước có các điều kiện, trình độ phát triển kinh tế cũng như các chính sách, biện pháp hỗ trợ và định hướng phát triển các DNNVV của riêng mình. Tiêu chí xác định DNNVV của các quốc gia cũng có thể thay đổi phù hợp với các chính sách hỗ trợ, chiến lược phát triển nền kinh tế ở từng thời kỳ. Tiêu chí xếp loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam Mặc dù khái niệm DNNVV đã được biết đến trên thế giới từ những năm đầu của thế kỷ XX và khu vực DNNVV được các nước quan tâm phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XX. Ở Việt Nam khái niệm DNNVV mới được biết đến từ những năm 1990 đến nay.
Trong cơ chế bao cấp, các doanh nghiệp nhà nước được chia thành doanh nghiệp loại 1, doanh nghiệp loại 2, doanh nghiệp loại 3 với tiêu chí phân loại chủ yếu là số lao động trong biên chế và phân theo phân cấp Trung ương - Địa phương. Trong đó DNNVV tương ứng với doanh nghiệp loại 2 và loại 3. Theo thông tư liên bộ số 21/LĐTT ngày 17/6/1993 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính, các doanh nghiệp ở Việt Nam được phân chia thành 5 hạng: Hạng đặc biệt, hạng I, n , III, IV. Trước năm 1998, một số địa phương, tổ chức đã xác định DNNVV dựa trên các tiêu chí khác nhau như: Số lao động (dưới 500 người), giá trị tài sản cố định (dưới 10 tỷ đồng), số dư vốn lưu động (dưới 8 tỷ đồng) và doanh thu hàng tháng (dưới 20 tỷ đồng).
Ngày 20/6/1998, Chính phủ đã có công văn số 681/CP-KCN về việc định hướng chiến lược và chính sách phát triển các DNNVV. Theo công văn này thì DNNVV là những doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng và lao động thường xuyên dưới 200 người. Việc áp dụng một trong hai tiêu chí hoặc cả hai tiêu chí tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, ngành, lĩnh vực. Đây có thể coi là văn bản đầu tiên đưa ra tiêu chí xác định DNNVV: Ngày 23 tháng 11 năm 2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV.
Theo quy định của Nghị định này, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất hoạt động theo Luật hiện hành có mức vốn dưới 10 tỷ đồng, hoặc có số lượng lao động thường xuyên trung bình hàng năm ít hơn 300 người. Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước, hợp tác xã hoạt động theo luật Hợp tác xã, hộ kinh doanh có đăng 9 ký kinh doanh theo Nghị định về đăng ký kinh doanh và doanh nghiệp gia đình không đăng ký kinh doanh. Như vậy, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh và thoả mãn một trong hai điều kiện trên đều được coi là DNNVV. Tính đến nay đã có gần 13 vạn DNNVV đăng ký kinh doanh (chưa kể gần 2 triệu hộ kinh doanh cá thể).
Các DNNVV hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm 17%, xây dựng chiếm 14%, nông nghiệp chiếm 14% và ngành dịch vụ chiếm 55%.2: Tổng hợp sô lượng doanh nghiệp qua các giai đoạn. DN Công ty Công ty Năm Tổng sô DN khác Tư nhân TNHH cổ phần Từ 1991-1999 48.500 Nguồn: [1 7 ] Sô lượng doanh nghiệp đãng ký kinh doanh từ năm 1991 đến 1999 trong cả nước là 48.000 doanh nghiệp với số vốn 141.994 tỷ đồng, trong đó: Có 27.000 doanh nghiệp tư nhân, 12.500 công ty trách nhiệm hữu hạn, còn lại là các loại hình doanh nghiệp khác. Sau khi có Luật Doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp tăng nhanh, đặc biệt là loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân. Trong tổng số hơn 81.000 doanh nghiệp thì doanh nghiệp tư nhân chiếm 33,54% (27.000 doanh nghiệp), công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 55,73% (45.
Điều này chứng tỏ cho thấy những chính sách của Nhà nước về hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân đã đúng hướng và đạt kết quả.