phần mở đầu, nội dung đề án được kết cấu thành 3 phần, bao gồm: Phần 1: Lý thuyết ứng dụng và căn cứ xây dựng đề án về chất lượng cho vay của Ngân hàng thương mại Phần 2: Nội dung triển khai và các kết quả thực hiện đề án chất lượng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sở giao dịch 3 Phần 3: Các khuyến nghị dựa trên kết quả thực hiện đề án chất lượng cho vay khách hàng các nhân tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sở giao dịch 3 5 PHẦN 1: LÝ THUYẾT VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 KHUÔN KHỔ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Nội dung về cho vay khách hàng cá nhân 1.1 Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân của NHTM Tín dụng là hoạt động cơ bản và đặc trưng của NHTM. Tín dụng theo nghĩa nguyên thủy “là sự tin tưởng, là quan hệ dựa trên tín nhiệm lẫn nhau, với hình thức phổ biến nhất là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả” (PGS. Phan Thị Thu Hà, Giáo trình Ngân hàng thương mại 2023, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân). Theo quy định tại Khoản 14, Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, cấp tín dụng được định nghĩa là “việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Như vậy cho vay là một trong các nghiệp vụ cấp tín dụng của ngân hàng. Điều này được giải thích cụ thể theo Khoản 1, Điều 2 Thông tư số 39/2016/TT- NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Giáo trình Ngân hàng thương mại 2023, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân cũng định nghĩa: “Cho vay là việc ngân hàng cấp tiền cho khách hàng với cam kết phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong khoảng thời gian xác định. Ngân hàng có thể cho vay bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, tiền có thể chuyển tới tài khoản của khách hàng hoặc tài khoản của người bán hàng cho khách hàng”.
Hoạt động cho vay của ngân hàng hướng tới nhiều đối tượng khách hàng là các cá nhân, tổ chức kinh tế xã hội,. Hầu hết các NHTM hiện nay đang tập trung phát triển mảng bán lẻ. Vì vậy cho vay khách hàng là cá nhân chiếm thị phần lớn trong hoạt động tín dụng nói chung của các ngân hàng. Trên cơ sở các khái niệm trên, có thể hiểu Cho vay khách hàng cá nhân là hình thức cho vay mà ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho chủ thể là khách hàng cá nhân nhằm tiêu dùng, đầu tư hoặc sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định dựa trên nguyên tắc hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi.2 Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân tại NHTM • Đối tượng cho vay Là cá nhân có đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.
Họ có nhu cầu vay vốn sử dụng cho những mục đích sinh hoạt, tiêu dùng hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh cá nhân. KHCN thường có năng lực tài chính ổn định, tài sản đảm bảo và nguồn trả nợ ở mức vừa phải, phù hợp với khoản vay nhỏ lẻ. Khác với khách hàng doanh nghiệp (KHDN), khoản vay của các KHCN thường có quy mô nhỏ nhưng số lượng lớn do nhu cầu vay vốn của cá nhân rất phong phú và đa dạng. Tuy nhiên nhu cầu vay vốn của KHCN cũng dễ chịu ảnh hưởng trước những biến động về kinh tế, văn hóa, xã hội,.
Vì vậy ở mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn của KHCN cũng khác nhau. • Quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn Quy mô các khoản cho vay KHCN thường nhỏ hơn nhiều so với cho vay đối tượng khách hàng là KHDN, tổ chức kinh tế do KHCN thường có hai mục đích vay vốn là vay để bổ sung vốn kinh doanh và vay đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Số tiền cho vay hai mục đích trên đều bị giới hạn bởi những điều kiện từ ngân hàng như tính hợp lý của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo (TSĐB). Tuy nhiên số lượng các khoản cho vay KHCN tại các NHTM lại lớn hơn nhiều so với số lượng cho vay KHDN, nhất là đối với các NHTM hoạt động theo định hướng là ngân hàng bán lẻ.
Nguyên nhân do nhu cầu tín dụng của KHCN phong phú và đa dạng, khi chất lượng cuộc sống, trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay vốn ngân hàng để cải thiện cuộc sống. Vì vậy, quy mô cho vay KHCN của các NHTM vẫn chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng dư nợ. • Chi phí cho vay KHCN thường tốn kém Cho vay KHCN là khoản mục cho vay có chi phí cao do đặc điểm của KHCN là số lượng nhiều và phân tán rộng, quy mô từng khoản vay thường nhỏ nên việc duy trì và phát triển cho vay KHCN của các NHTM sẽ tốn kém nhiều chi phí hơn trong một số công tác như: Mở rộng hệ thống mạng lưới, quảng cáo, tiếp cận đối tượng KHCN ở từng khu vực, địa bàn; Phát triển nhân sự nhằm phục vụ khách hàng từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ; Các chi phí liên quan khác như chi phí quản lý, văn phòng phẩm, điện thoại, công tác phí hỗ trợ cán bộ tín dụng;. • Thời hạn vay vốn đa dạng Thời hạn vay vốn của KHCN đa dạng bao gồm các khoản vay ngắn hạn, trung và dài hạn tùy thuộc vào mục đích và phương thức cho vay.
Đối với những khoản vay bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh (SXKD), thời hạn 7 cho vay cần phù hợp với chu kỳ SXKD của cá nhân và hộ gia đình, do đó thời hạn vay thường là ngắn hạn. Còn đối với những khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình thì thời hạn vay thường là trung và dài hạn, tùy thuộc vào khả năng trả nợ của khách hàng và chính sách của từng NHTM. • Lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn cho vay KHDN Các khoản cho vay KHCN thường có lãi suất cao hơn so với các khoản cho vay KHDN. Nguyên nhân là do chi phí của việc cho vay KHCN tính trên mỗi đơn vị đồng vốn cho vay là lớn.
Nhiều khoản cho vay KHCN cộng lại mới bằng một khoản cho vay KHDN, trong khi chi phí bỏ ra cho việc thẩm định, quản lý lại rất lớn. Bên cạnh đó cho vay tiêu dùng có mức độ rủi ro của cao trong quá trình tác nghiệp và khả năng thu hồi nợ. • Cho vay KHCN dẫn đến một số rủi ro tín dụng Rủi ro thông tin bất cân xứng: Khi cho vay KHCN, bên cạnh tính hợp lý về nhu cầu sử dụng vốn, khả năng trả nợ, TSĐB thì thông tin về bản thân khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng để ngân hàng đưa ra quyết định cho vay. Việc đánh giá nhân thân, nguồn trả nợ, mục đích sử dụng vốn của KHCN thường khó đầy đủ và rõ ràng từ đó dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng.
Ngoài ra, nguồn trả nợ của KHCN chủ yếu đến từ thu nhập ở thời điểm hiện tại. Trong trường hợp người vay gặp vấn đề về sức khỏe, mất việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập thì sẽ không thể trả nợ vay cho ngân hàng. Rủi ro tác nghiệp: Do quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn nên để có thể đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng đòi hỏi sự phục vụ nhanh chóng của cán bộ tín dụng. Do đó trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng, sự sai sót là không thể tránh.
Rủi ro này còn tăng lên đối với cho vay tín chấp, do ngân hàng cấp tín dụng trên cơ sở thẩm định uy tín của khách hàng.3 Dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân của NHTM • Nguyên tắc cho vay Chất lượng tín dụng luôn được các ngân hàng quan tâm hàng đầu, đây là nội dung thể hiện tiềm lực tài chính của ngân hàng, giúp ngân hàng ổn định và phát triển khi sự cạnh tranh trong nền kinh tế trở nên gay gắt hơn. Do đó mà hoạt động cho vay, nhất là cho vay KHCN phải dựa trên những nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời của ngân hàng. Theo đó, hoạt động cho vay KHCN của NHTM được thực hiện dựa trên một số nguyên tắc bao gồm: Thứ nhất, vốn vay phải được cam kết sử dụng đúng mục đích thỏa thuận, không trái các quy định của pháp luật và các quy định khác của ngân hàng và mang lại hiệu quả kinh tế. Nguyên tắc này được đặt ra nhằm xác định ý chí của bên vay 8 với dự định sử dụng vốn vay vào kế hoạch và mục tiêu gì.
Dựa trên những cam kết của khách hàng về mục đích sử dụng vốn, ngân hàng sẽ dễ dàng định giá khoản vay, kiểm soát năng lực tài chính của khách hàng. Sau khi nhận được tiền vay, khách hàng phải sử dụng đúng mục đích như đã cam kết. Ngân hàng có trách nhiệm kiểm soát việc sử dụng vốn vay của khách hàng, nếu khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, ngân hàng phải áp dụng các biện pháp chế tài thích hợp nhằm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra cho ngân hàng. Thứ hai, khách hàng phải cam kết hoàn trả đầy đủ cả vốn (gốc) và lãi theo đúng thỏa thuận giữa hai bên.
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo KHCN có ý thức, trách nhiệm trả nợ đối với khoản nợ tại từng thời điểm tín dụng. Đồng thời cũng là cơ sở để xác định hành vi tuân thủ hay vi phạm nghĩa vụ trả nợ, từ đó có các chế tài phù hợp để giải quyết.