Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 1. Khái quát chung về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng 6 luan an 1. Khái niệm chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Bộ từ điển luật học Black’s Law Dictionary định nghĩa: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng được hiểu là sự đồng ý của bên được đề nghị đối với các điều khoản của đề nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị, một cách rõ ràng hoặc ngầm định bằng hành vi, theo hình thức được thừa nhận hoặc theo yêu cầu của bên đề nghị, theo đó hợp đồng được xác lập và ràng buộc các bên. Nếu một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có sửa đổi các điều khoản hoặc bổ sung các điều khoản mới, nó thường là một đề nghị giao kết hợp đồng mới”.
Pháp luật của CHLB Nga về giao kết hợp đồng, tại khoản 1, Điều 438 Bộ luật dân sự CHLB Nga chỉ ra: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị giao kết hợp đồng về việc đề nghị giao kết hợp đồng được chấp nhận. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là chấp nhận toàn bộ và vô điều kiện”. Ngoài ra, Điều 438, khoản 2 của Bộ luật này qui định: “Sự im lặng không được xem là chấp nhận, trừ khi có sự khác biệt phát sinh từ pháp luật, từ tập quán kinh doanh, hoặc từ quan hệ trước đó giữa các bên”. Theo diễn giải của các luật gia Unidroit: việc chấp nhận bằng hành động trước tiên với việc phân loại đề nghị.
Họ ngụ ý rằng, đề nghị có thể được chia thành hai loại căn cứ vào điều kiện về hình thức chấp nhận: Một loại là đề nghị có qui định hình thức chấp nhận; và loại kia là đề nghị không qui định hình thức chấp nhận. Ví dụ: Đối với loại thứ hai này, việc chấp nhận bằng hành động thông thường được thể hiện qua việc thực hiện một số công việc như thanh toán trước một phần giá hàng hóa, vận chuyển hàng hóa hoặc bắt đầu xây dựng tại mặt bằng… Những quan niệm này xuất phát trên nền tảng tự do ý chí, tôn trọng tối đa sự thỏa thuận, sự thống nhất ý chí mà không câu nệ bởi hình thức và bảo đảm nguyên tắc thiện chí, trung thực và hợp tác. Im lặng có phải là chấp nhận mặc nhiên không? Đó là vấn đề tranh luận sôi nổi. Unidroit đã thể hiện rõ quan điểm 7 luan an về vấn đề này là im lặng hoặc không hành động tư bản thân chúng không phải là chấp nhận như đã nói ở trên.
Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng không xem im lặng là sự chấp nhận mặc nhiên, mà chỉ thừa nhận một trường hợp cho sự chấp nhận bằng im lặng khi có sự thỏa thuận giữa người đề nghị và người được đề nghị “im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết” hợp đồng (Điều 404, Khoản 2).Tuy nhiên để có được hiểu biết rõ ràng hơn về các qui định này của Bộ luật Dân sự năm 2005, cần phải giải thích sự thỏa thuận của hai bên về vấn đề này được thể hiện ở đâu: (1) Trong nội tại của đề nghị rồi được người được đề nghị thông báo đồng ý riêng về vấn đề đó; hay (2) Trong đề nghị bổ sung rồi được người được đề nghị thông báo chấp nhận vấn đề đó trong đề nghị bổ sung; hay (3) Trong mọi thỏa thuận khác; hay (4) Trong tập quán; hay (5) Trong thói quen quan hệ giữa hai bên. Unidroit đã có sự nhắc nhở: Người đề nghị không thể đơn phương tuyên bố trong đề nghị của mình rằng đề nghị được coi là chấp nếu không trả lời hoặc giữ im lặng, bởi người đề nghị là bên đề xướng hợp đồng và người được đề nghị có quyền tự do lựa chọn trả lời hoặc phớt lờ lời đề nghị. Bộ luật dân sự Bắc Kỳ năm 1931 phân biệt sự tuyên bố ý chí chấp nhận rõ ràng và mặc nhiên chấp nhận. Điều 653 và Điều thứ 654 của Bộ luật này và tương ứng là Điều thứ 689 và Điều thứ 690 của Bộ luật Dân sự Trung Kỳ năm 1936 có nội dung tương tự như nhau: theo đó, quy định tài Điều thứ 653.
Đồng ý là ý nguyện của mọi bên có quan hệ trong hiệp ước đều thoải hợp nhau cả. Trong trường hợp nếu có một bên không đồng ý thì hiệp - ước cũng không thành. Ngoài tra, theo quy định tài Điều 654 nêu rõ: “sự đồng ý có thể tỏ ra bằng lời nói hoặc bằng giấy tờ, sự đồng ý cũng có thể tùy vào tình trạng mà cho là mặc nhiên ám chỉ được”. Từ đây có thể nhận thấy việc chấp nhận bằng lời nói, bằng văn bản thể hiện việc tuyên bố rõ ràng ý chí của người chấp nhận và có hiệu lực nếu tuân thủ đầy đủ các điều kiện của chấp nhận.
Theo BLDS 2015 quy đinh tại Điều 393, Khoản 1 có định nghĩa chính thức như sau: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị 8 luan an về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị. Định nghĩa này không có sự thay đổi so với BLDS 2005 được nêu tại Điều 396. Trong BLDS 2012 có sự khác bổ sung khoản 1 Điều 393, theo đó: “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”. Điều 394, BLDS 2015 về thời hạn trả lời tại Khoản 1 quy định: “Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời đồng thời khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý”.
Soi chiếu Điều 397 BLDS 2005 có thể nhận thấy BLDS 2015 đã có những điểm mới quy định rõ hơn về thời hạn chấp nhận giao kết hợp đồng. Như vậy, dưới góc độ pháp lý, có thể thấy điểm chung nhất giữa BLDS Việt Nam năm 1995, BLDS 2005 và BLDS 2015 cũng như các văn bản quốc tế đều cố gắng đưa ra những định nghĩa chính thức trong văn bản về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng với mục đích giảm thiểu tranh luận và thống nhất chung về “chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng”. Khi nghiên cứu về pháp luật dân sự có thế nhận thấy đó là những điểm ưu việt của hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay nhằm làm sáng tỏ và xác định mối quan hệ pháp luật để biết rõ đó có phải là sự chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hay không làm tiền đề minh chứng rõ ràng, đầy đủ hơn và là từ khóa quan trọng nhất về khái niệm chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện hay tiêu chuẩn của chấp nhận”. Đặc điểm pháp lý của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Theo pháp luật Việt Nam nói chung và BLDS Việt Nam qua các thời kỳ 1995, BLDS 2005 và BLDS 2015 không có khái niệm hoặc định nghĩa cụ thể nào và đặc điểm pháp lý của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Tuy nhiên, phân tích từ thực căn cứ pháp luật dân sự cũng như thực tiễn đời sống xã hội, đặc điểm pháp 9 luan an lý cơ bản của chấp nhận hợp đồng thể hiện qua những hình thức sau đây: Thứ nhất, đặc điểm pháp lý là sự thỏa thuận thống nhất về ý chí và ý chí đó phải phù hợp ý chí, đường lối chủ trương của của Nhà nước, không đi ngược lại quy định pháp luật và đạo đức xã hội. Nếu sự chấp nhận mang tính ép buộc, không xuất phát trên tinh thần tự nguyện, không có sự thống nhất ý chí thì chấp nhận đó dù có được xác lập nhưng vẫn bị tuyên vô hiệu khi có yêu cầu. Thứ hai, mang đặc điểm của làm phát sinh hậu quả pháp lý. Khi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng đồng nghĩa việc các bên tham gia đã thống nhất ý chí thông qua việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự của các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng.
Theo đó, sự kiện pháp lý biến thành hành vi mà pháp luật quy định khi xuất hiện sẽ được xác lập, thay đổi hay chấm dứt và nhu cầu, mục đích tham gia các quan hệ dân sự nhằm thỏa mãn mục đích của mình. Ví dụ: Hợp đồng mua bán hàng hóa phát sinh hiệu lực làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của bên mua hàng hóa và bên bán hàng hóa. Bên mua phát sinh nghĩa vụ thanh toán tiền hàng còn bên bán phát sinh nghĩa vụ giao hàng. Thứ ba, đặc điểm quan trọng tiến quyết của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chính là chấp nhận các điều kiện, điều khoản cũng như thống nhất ý chí, điều kiện, điều khoản, quyền và nghĩa vụ mà các chủ thể tham gia hợp đồng quy định cho nhau và buộc các bên thực hiện theo đúng cam kết của mình.
Sự thống nhất ý chí, quy định quyền, nghĩa vụ của các Bên ngoài quyền tự do của chủ thể còn phải phù hợp với ý chí của Nhà nước để Nhà nước kiểm soát, cho phép Hợp đồng dân sự và điều kiện chấp nhận hợp đồng phát sinh trên thực tế. Thứ tư, mang đặc tính mục đích giao kết, mục đích của của hợp đồng dân sự nói chung và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là thể hiện quyền, lợi ích hợp pháp, không trái đạo đức xã hội mà các bên, các chủ thể tham gia cùng hướng tới. Đặc điểm quan trọng nhất, dễ nhận diện khi và chỉ khi mục đích của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự được chứng minh hoặc được thừa nhận là hợp pháp, 10 luan an không trái đạo đức xã hội thì hợp đồng dân sự mới phát sinh hiệu lực, qua đó quyền và nghĩa vụ của các bên mới có thể thực hiện được trên thực tế.