Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN Ngữ pháp truyền thống tiếp cận câu hỏi từ phương diện mục đích phát ngôn và tuy chưa hình dung một cách sáng rõ nhưng thực chất ít nhiều đã đụng chạm đến bình diện dụng học. Các nhà nghiên cứu đã định nghĩa, phân loại, xác định hình thức câu theo cái mục đích đó. Kết quả của việc làm này là câu hỏi được nhận diện như một phương tiện thực hiện công năng đặc trưng hỏi và yêu cầu được trả lời. Đến khi quan sát câu hỏi trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, nhận thấy nó không chỉ có cái công năng đặc trưng đó mà còn rất nhiều công năng khác, nhiều tác giả đã lúng túng và thêm vào một phần như ghi chú: câu hỏi nhưng không thực hiện mục đích hỏi (câu hỏi giả).
Ngữ pháp chức năng và ngữ pháp chức năng hệ thống luôn cố gắng đẩy mạnh việc nghiên cứu câu hỏi theo hướng ngữ nghĩa, ngữ dụng với các yếu tố như lực ngôn trung, tiền giả định, hàm ý, HT, lập luận, tính liên nhân, phép lịch sự, chiến lược giao tiếp, …. Theo quan điểm của trường phái này, câu trả lời được xem là một trong những nhân tố quan trọng xác định nghĩa của câu hỏi: tất cả các câu trả lời có thể có được cho một câu hỏi chính là nghĩa của câu hỏi đó. Ngôn ngữ học tri nhận tiếp cận câu hỏi ở bình diện ngữ nghĩa. Câu hỏi được xem là một phương tiện thực hiện việc thu nhận tri thức, là cơ sở hình thành nên kinh nghiệm và sau đó là các cách ý niệm hóa.
Để thực hiện HV hỏi, người bản ngữ tạo ra một số khuôn mẫu lời nói nhất định. Có thể xem câu hỏi như một phạm trù tri nhận gồm có nhiều tiểu loại phạm trù khác nhau. Mỗi phạm trù có một điển dạng và các hiện tượng mờ mà các hiện tượng mờ này rất dễ trở thành thành viên cho các phạm trù khác. Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày những lý luận như mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói, lý thuyết CTTT và mối quan hệ giữa CTTT với câu hỏi, cấu trúc câu hỏi tương thích, … làm cơ sở cho việc triển khai nội dung khảo sát là đặc điểm câu hỏi tiếng Việt ở hai đích ngữ dụng thu nhận và truyền đạt TT dưới góc nhìn của lý thuyết TT.
Trong luận án, chúng tôi một mặt vẫn đặt đối tượng khảo sát của mình trong mối quan hệ với những thành tựu chung của ngôn ngữ học hiện đại nhưng mặt khác giải pháp cho đề tài luận án là theo định hướng của ngữ pháp chức năng. MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ VÀ LỜI NÓI, GIỮA CÂU VÀ PHÁT NGÔN Chúng tôi lấy việc giải quyết mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói, giữa câu và phát ngôn làm cơ sở lý thuyết chung là vì đối tượng nghiên cứu của đề tài vừa là câu (thuộc hệ thống, ngôn ngữ) vừa là phát ngôn (thuộc thành phẩm, lời nói). Hai yếu tố này, trong một thời gian dài (ở thời kỳ tiền ngữ pháp chức năng), được phân chia thứ bậc và ranh giới xác định trong ngôn ngữ học: ngôn ngữ là đối tượng chính, đối tượng duy nhất, đích thực; lời nói là bộ phận ngoại vi. Phải đến khi ngữ pháp chức năng ra đời, cùng với nó là sự xuất hiện của khuynh hướng ngữ dụng học, thì mối quan hệ mang tính logic hệ thống- sản phẩm này mới được giải quyết thỏa đáng, như Cao Xuân Hạo từng nói “Lời nói là sự hiện thực hóa ngôn ngữ, là ngôn từ trong hoạt động thực sự của nó.
Trong toàn bộ những sách vở và những phát ngôn về ngôn ngữ không thể có lấy một nhận định nào, một ý kiến nào có liên quan đến ngôn ngữ mà không được rút ra từ một câu nói cụ thể” [61, tr. Cho đến nay thì phần lớn các nghiên cứu về ngôn ngữ đều hướng vào lời nói, dùng thành tựu của lời nói để soi sáng đặc điểm ngôn ngữ.Lyons (2006), việc phân biệt giữa ngôn ngữ và lời nói, mà sau đó là những ảnh hưởng sâu sắc đến ngành ngôn ngữ học, có lẽ bắt đầu từ tính nước đôi về quy loại (categorially ambivalent) xét theo đặc trưng ngữ nghĩa quan yếu về số tính (countability) của từ “language” trong tiếng Anh “Biểu thức chứa nó có thể dùng để chỉ không phải là tập hợp các ngôn ngữ mà mỗi thành viên là (hoặc có thể miêu tả như là) một hệ thống của các từ và các quy tắc ngữ pháp, mà là để chỉ những sản phẩm (cái được sử dụng) ở dạng nói hay dạng viết của một tập hợp các hệ thống cụ thể” [87, tr. Để làm giảm sự mơ hồ và lẫn lộn về tính lưỡng nghĩa hệ thống – sản phẩm này, một số nhà ngôn ngữ học đã đặt ra các thuật ngữ để thay thế, F.Saussure (1916) với ngôn ngữ và lời nói, N.Chomsky (1965) với ngữ năng và ngữ thi, J.Lyons (1977) với hệ thống và sản phẩm,. Dĩ nhiên, các thuật ngữ này không có sự trùng khớp hoàn toàn về nội hàm và ngoại diên.Saussure nhấn mạnh tính xã hội của ngôn ngữ để không xem lời nói là đối tượng nghiên cứu (vì lời nói mang đậm tính cá nhân).
Quan điểm của Saussure về sau chịu nhiều chỉ trích của các nhà ngôn ngữ học, như J. Với lý thuyết hành động ngôn từ, J.Austin chỉ rõ hoạt động ngôn từ thông qua những lời nói cụ thể chính là một hoạt động xã hội.Austin được đánh giá là “một lý thuyết về dụng học mang tính xã hội. Lý thuyết này cho rằng nói là một họat động trong khuôn khổ những thiết chế và những quy ước xã hội đã được giả định và chấp nhận bởi các thành viên hay những người tham gia tương tác” [87, tr. Như vậy, ngôn ngữ trong quá trình thực hiện chức năng quan trọng nhất mà cũng là lý do tồn tại của nó – giao tiếp – không chỉ chịu sự quy định của hệ thống cấu trúc nội tại mà còn chịu sự chi phối của các yếu tố thuộc môi trường tồn tại như đặc điểm nền văn hóa, chuẩn tắc xã hội, đặc tính tư duy dân tộc, các quy tắc giao tiếp, chiến lược giao tiếp,.
Trở lại mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói, chúng tôi muốn nhấn mạnh quan điểm của J.Lyons (2006): ngôn ngữ thuộc hệ thống, mang tính tiềm tàng; lời nói mang tính sản phẩm, hiện thực như ông từng nói “Sự phân biệt mang tính bản chất ở đây là sự phân biệt giữa một hệ thống (gồm một bộ các quy tắc ngữ pháp và một vốn từ vựng) với cái sản phẩm (cái được sử dụng) của chính cái hệ thống đó” [87, tr. Theo đó là sự phân biệt giữa câu và phát ngôn “Phát ngôn là dạng thức phụ thuộc vào văn cảnh của câu cụ thể” [87, tr. Điều đó cũng có nghĩa là khi nói đến câu là nói đến tính đúng ngữ pháp và tính độc lập của nghĩa ở mức độ cao đối với văn cảnh; còn nói đến phát ngôn là nói đến tính khả chấp (caculability), không trọn vẹn về mặt ngữ pháp và tính phụ thuộc của nghĩa vào văn cảnh, nghĩa của phát ngôn được xác định bởi chính cái ngữ cảnh chứa phát ngôn đó. Câu và phát ngôn còn khác nhau ở cách sử dụng.
Ở đây, chúng tôi muốn nói về câu hỏi: câu hỏi thuộc vào loại được dùng theo lối đặc trưng (characteristic use) để hỏi; phát ngôn hỏi, tùy theo hoàn cảnh giao tiếp, bên cạnh dùng cho mục đích hỏi, còn được dùng cho những mục đích khác hỏi, tức dùng theo lối không đặc trưng (non-characteristic use) tạo nên hàm ý (implication). Đó là chưa kể, một cấu trúc ngữ pháp, trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, có thể được sử dụng theo những hàm ý khác nhau và được xử lý TT theo những cách khác nhau. Trong luận văn này, chúng tôi dùng thuật ngữ câu để gọi cả câu hỏi và phát ngôn hỏi. CẤU TRÚC TƯƠNG THÍCH CỦA CÂU HỎI Việc nghiên cứu ngôn ngữ theo quan điểm động, xem hoạt động giao tiếp là một hoạt động xã hội có tính tương tác cao, đứng ở góc độ của người tạo lập văn bản, có tính đến yếu tố hoàn cảnh và năng lực của Sp2, đã giúp tác giả Mai Thị Kiều Phượng (2007) tìm ra một cấu trúc rất thỏa đáng cho phát ngôn: cấu trúc lựa chọn.
Cấu trúc này vốn có cơ sở từ những vấn đề lựa chọn ngôn từ sao cho đạt hiệu quả giao tiếp do các nhà ngôn ngữ học như L. Searle (1969), …xây dựng trong khoảng nửa đầu thế kỷ XX, được xem là lý thuyết nền tảng của ngữ dụng học. Cấu trúc lựa chọn có thể hiểu là một sự lựa chọn mang tính chiến lược các yếu tố ngôn ngữ để tạo thành các tổ hợp phù hợp với hoàn cảnh, mục đích giao tiếp nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp cao nhất. “Thực chất và cái đích của cấu trúc lựa chọn là xác lập hiệu lực giao tiếp theo hướng hiển ngôn và hàm ngôn, lấy cấu trúc hiển ngôn làm hình thức cho cấu trúc hàm ngôn.
Đồng thời là sự chú ý mối quan hệ giữa phạm trù ngôn ngữ và phạm trù phi ngôn ngữ” [117, tr. Tuy rất tâm đắc với cấu trúc lựa chọn nhưng chúng tôi lại đề cao tính phù hợp (compatibility) với hoàn cảnh giao tiếp của phát ngôn hơn – chúng tôi tạm gọi là cấu trúc tương thích. Lựa chọn có thể xem như một thao tác bắt buộc khi sử dụng ngôn ngữ và cấu trúc lựa chọn là một cấu trúc hiển nhiên tồn tại trong ngôn ngữ vì hầu như nói bất cứ điều gì, Sp1 cũng đã trải qua thao tác lựa chọn. Song đứng từ góc độ ngữ cảnh, cấu trúc ấy có tương thích với những yêu cầu của ngữ cảnh hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có năng lực ngữ dụng của những người tham gia giao tiếp.
Vai trò của ngữ cảnh trong việc xác định nghĩa của câu Ngữ cảnh, bao gồm ngữ cảnh rộng (nền văn hóa, kiến thức khoa học, bức tranh thế giới, các chuẩn tắc xã hội, …) và ngữ cảnh hẹp (không gian và thời gian, tính chính thức, nghi thức hay không chính thức, nghi thức của cuộc thoại, …), là yếu tố phi ngôn nhưng giữ vai trò rất quan trọng đối với sự lựa chọn các cấu trúc ngôn ngữ. Khác với ngữ cảnh, ngôn bản là một chuỗi câu tạo nên diễn ngôn và chuỗi câu ấy “không phải đơn giản chỉ được xếp cạnh nhau trên chuỗi mà phải gắn bó với nhau theo một cách thức thích hợp nào đó về ngữ cảnh.