Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả Nguyễn Thị Mai có đề tài "Câu hỏi tiếng Việt dưới góc nhìn lý thuyết thông tin", thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ (Mã số: 62.01), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trịnh Sâm tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2012).
1. Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu nhiều cấp bậc, nhiều bình diện, phục vụ chủ yếu cho hoạt động giao tiếp của con người. Dưới ánh sáng của ngữ pháp chức năng và ngữ dụng học, việc nghiên cứu ngôn ngữ không dừng lại ở cấu trúc hình thức kết học thuần túy hay nghĩa biểu hiện tĩnh mà phải đặt ngôn ngữ vào môi trường hành chức thực tế, có tính đến yếu tố hoàn cảnh và nhân vật giao tiếp.
Trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ, toàn bộ lý thuyết logic hình thức trước đây chủ yếu lấy câu tường thuật làm đối tượng nghiên cứu, trong khi câu hỏi ít được chú ý hoặc chỉ được xem xét phiến diện ở công năng thu nhận thông tin (hỏi để được trả lời). Khi quan sát trong thực tế giao tiếp, câu hỏi còn đảm nhận nhiều hành vi khác hỏi (cầu khiến, khẳng định, phủ định, đe dọa, bộc lộ cảm xúc...) và giữ vai trò trọng yếu trong tương tác hội thoại. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu câu hỏi tiếng Việt ở các bình diện kết học, nghĩa học và dụng học, việc vận dụng một khung lý thuyết chuyên biệt thuộc ngữ dụng học là Lý thuyết cấu trúc thông tin (CTTT) để phân tích câu hỏi một cách có hệ thống, đồng bộ ở cả hai đích ngữ dụng thu nhận và truyền đạt thông tin vẫn còn là một khoảng trống học thuật chưa được giải quyết thấu đáo.
2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục đích chính của luận án là vận dụng lý thuyết CTTT để làm sáng tỏ các bình diện của câu hỏi tiếng Việt, làm rõ cơ chế tổ chức nội dung và cách thức câu hỏi hành chức trong giao tiếp.
Luận án xác định trả lời ba câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Trong câu hỏi tiếng Việt, các thành phần thông tin (TT) được thể hiện như thế nào, kể cả ở câu hỏi chính danh và câu hỏi phi chính danh?
- Các phương tiện ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) đảm nhận vai trò gì trong việc đánh dấu tiêu điểm (TĐ) của câu hỏi tiếng Việt?
- Câu hỏi thể hiện những thông tin gì trong giao tiếp và đảm nhiệm những chức năng gì trong tương tác hội thoại (HT)?
Để trả lời các câu hỏi trên, luận án đề ra bốn nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xây dựng và lý giải khái niệm cấu trúc câu hỏi tương thích phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.
- Miêu tả hai thành phần thông tin cơ bản: Tiền giả định ngữ dụng (TGĐ ND) và Xác nhận ngữ dụng (XN ND) của câu hỏi tiếng Việt theo khung lý thuyết của K. Lambrecht (1994).
- Khảo sát mối quan hệ và các bước chuyển từ câu hỏi dùng để hỏi (chính danh) sang câu hỏi không dùng để hỏi (phi chính danh) dưới góc độ CTTT.
- Trình bày vai trò của các cấu trúc thông tin câu hỏi trong tương tác hội thoại.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các câu có hình thức hỏi trong các ngữ cảnh giao tiếp của hội thoại tiếng Việt.
- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát ba bình diện của câu hỏi (kết học, nghĩa học, dụng học), trong đó tập trung chuyên sâu vào bình diện ngữ dụng học; khảo sát hai đích ngữ dụng lớn là câu hỏi chính danh (lực ngôn trung trực tiếp) và câu hỏi phi chính danh (lực ngôn trung gián tiếp); mở rộng phạm vi sang cấu trúc tương thích và vai trò của câu hỏi trong tương tác hội thoại.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
1. Các hướng nghiên cứu về câu hỏi tiếng Việt
Trong giới Việt ngữ học, câu hỏi đã được tiếp cận qua nhiều giai đoạn và trường phái:
- Bùi Đức Tịnh (1996): Tiếp cận từ công năng thu nhận thông tin của câu nghi vấn, xác định các dấu hiệu hình thức (chỉ định từ, đại từ nghi vấn, phó từ nghi vấn) và bước đầu ghi nhận trường hợp ngoại lệ về giá trị tại lời gián tiếp (phủ định nghi vấn).
- Nguyễn Kim Thản (1996): Tiếp cận từ công năng thông báo điều hoài nghi và đòi hỏi trả lời; phân chia bốn loại: câu hỏi toàn bộ, câu hỏi bộ phận, câu hỏi lựa chọn, câu hỏi rộng; đồng thời khảo sát ngữ điệu và các mục đích khác hỏi (khẳng định, phủ định, ra lệnh, bộc lộ cảm xúc).
- Diệp Quang Ban (1996, 2005): Kết hợp tiêu chí hình thức và mục đích phát ngôn, đưa ra bảng phân loại chi tiết cùng các biến thể cấu trúc (rút gọn, dồn ép từ các cặp từ nghi vấn); xem các câu hỏi thực hiện mục đích khác hỏi là "câu hỏi giả".
- Cao Xuân Hạo (1991, 2006): Dưới góc nhìn ngữ pháp chức năng, phân loại câu dựa trên tình thái; chia câu hỏi thành câu hỏi chính danh (tổng quát, chuyên biệt, hạn định) và câu hỏi phi chính danh (cầu khiến, khẳng định, phủ định, phỏng đoán, ngần ngại, cảm thán).
- Lê Đông (1985, 1991, 1994, 1996): Nghiên cứu ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu hỏi chính danh từ lý thuyết cấu trúc thông báo, chỉ ra trục ngữ nghĩa - ngữ dụng cơ bản gồm thông tin tiền giả định và cái chưa biết cần biết.
- Nguyễn Thị Thìn (1994): Hệ thống hóa 11 kiểu cấu trúc câu hỏi phi chính danh trong tiếng Việt.
- Nguyễn Thị Lương (1995): Miêu tả hệ thống tiểu từ tình thái nghi vấn cuối câu ở cả trạng thái tĩnh và động.
- Nguyễn Đức Dân và Vũ Thị Thời (2007): Khảo sát hiệu lực ở lời gián tiếp chất vấn - bác bỏ và hệ thống biểu thức ngôn ngữ biểu đạt.
- Nguyễn Thị Thu Hương (2003): Phân tích các hiệu lực tại lời của cấu trúc "có... không" qua đối chiếu với "yes-no question" trong tiếng Anh.
- Mai Thị Kiều Phượng (2007): Khảo sát hành vi hỏi trong ngữ cảnh giao tiếp mua bán, đề xuất khái niệm cấu trúc lựa chọn.
- Lê Anh Xuân (1999, 2000, 2001, 2006): Khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu hỏi thông qua cấu trúc và hành vi của câu trả lời tương ứng.
2. Các hướng nghiên cứu về Lý thuyết cấu trúc thông tin
- Quốc tế:
- J. Firbas (1966): Trường phái Praha với khái niệm "tỉ lực thông báo" (Communicative Dynamism - CD), phân đoạn thực tại câu theo trật tự tăng dần của lượng thông tin.
- M. A. K. Halliday (1967, 1985, 1991): Đưa ra thuật ngữ "cấu trúc thông tin", phân biệt thông tin cũ (given) và thông tin mới (new), tách biệt cấu trúc thông tin với cấu trúc Đề - Thuyết.
- S. Dik (1978, 1989) và R. Dooley (1982): Xác định tiêu điểm (focus) là hạt nhân dụng pháp thể hiện thông tin nổi bật nhất trong khung vị ngữ và cặp hỏi - đáp.
- N. Chomsky (1971): Đề xuất cặp thuật ngữ Tiền giả định - Tiêu điểm (Presupposition - Focus).
- K. Lambrecht (1994): Phân chia toàn bộ thông tin câu thành Tiền giả định ngữ dụng (TGĐ ND) và Xác nhận ngữ dụng (XN ND); phân loại tiêu điểm thành tiêu điểm tham tố, tiêu điểm vị ngữ và tiêu điểm câu; xác lập phạm vi tiêu điểm rộng và hẹp.
- M. Steedman (2002, 2003): Khảo sát vai trò của trọng âm và ngữ điệu trong việc đánh dấu tiêu điểm tương phản qua hai lớp cấu trúc của đơn vị thông tin.
- Trong nước: CTTT chủ yếu được giới thiệu qua các bài báo chuyên đề của Lý Toàn Thắng (1981), Nguyễn Hồng Cổn (2001, 2004, 2010), Trần Hữu Mạnh (2004), Nguyễn Thị Thanh Huyền (2008, 2010), hoặc dưới dạng các tiểu mục trong sách của Trần Ngọc Thêm (1985), Cao Xuân Hạo (1991), Hồ Lê (1991), Nguyễn Thiện Giáp (2000), Đỗ Hữu Châu (2001), Diệp Quang Ban (2005).
3. Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án kế thừa các thành tựu của ngữ pháp chức năng và ngữ dụng học, trực tiếp vận dụng khung lý thuyết CTTT của K. Lambrecht (1994) làm nền tảng miêu tả toàn diện câu hỏi tiếng Việt. Luận án giải quyết khoảng trống về cơ chế phân bố hai thành phần TT (TGĐ ND và XN ND), các phương thức đánh dấu tiêu điểm nghi vấn, và cơ chế chuyển đổi CTTT từ câu hỏi chính danh sang câu hỏi phi chính danh trong tương tác hội thoại.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1. Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
- Quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói, câu và phát ngôn: Kế thừa quan điểm của J. Lyons (2006) và Cao Xuân Hạo (1991). Luận án phân biệt hệ thống (ngôn ngữ/câu - tính đúng ngữ pháp, độc lập với ngữ cảnh) và sản phẩm (lời nói/phát ngôn - tính khả chấp, phụ thuộc ngữ cảnh). Câu hỏi thuộc cách dùng đặc trưng (hỏi), phát ngôn hỏi thuộc cách dùng không đặc trưng tạo nên hàm ý.
- Lý thuyết cấu trúc thông tin của K. Lambrecht (1994):
- Tiền giả định ngữ dụng (TGĐ ND): Thông tin cũ, mang tính xác định, được người nói (Sp1) giả định là người nghe (Sp2) đã biết hoặc cùng chia sẻ qua ngữ cảnh, ngôn cảnh, văn hóa, tri thức nền.
- Xác nhận ngữ dụng (XN ND): Thông tin mới được Sp1 truyền đạt và Sp2 tiếp nhận nhằm thay đổi trạng thái nhận thức.
- Tiêu điểm (TĐ): Thành tố ngữ nghĩa then chốt trong XN ND, phân biệt XN ND với TGĐ ND. Phân loại theo cấu trúc (TĐ tham tố, TĐ vị ngữ, TĐ câu); theo phạm vi (TĐ rộng, TĐ hẹp); theo phẩm chất thông tin (TĐ thông tin mới - TĐM, TĐ thông tin tương phản - TĐTP, TĐ thông tin pha tạp - TĐPT).
- Khái niệm Cấu trúc tương thích: Được xây dựng trên cơ sở phát triển khái niệm cấu trúc lựa chọn (Mai Thị Kiều Phượng, 2007). Cấu trúc tương thích là kết quả của quá trình lựa chọn và cấu trúc hóa các yếu tố ngôn ngữ, xác lập hiệu lực giao tiếp (hiển ngôn và hàm ngôn) phù hợp với ngữ cảnh, ngôn bản, năng lực ngữ dụng của đối tác giao tiếp và chiến lược hội thoại.
- Lý thuyết hành động ngôn từ và hội thoại: Khung phân loại hành vi của J. Austin (1962), J. Searle (1969, 1975), Wunderlich (1991); lý thuyết cấu trúc hội thoại, cặp kế cận, lượt lời, quan hệ liên nhân (trục quyền uy và trục thân cận), phép lịch sự và thể diện (E. Goffman, D. Sperber, C. Kerbrat-Orecchioni).
2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng hướng tiếp cận định tính kết hợp phân tích chức năng - ngữ dụng:
- Phương pháp miêu tả, phân tích ngữ cảnh: Đặt câu hỏi trong ngữ cảnh hẹp (sự tương tác của các yếu tố ngôn ngữ, ngôn cảnh) và ngữ cảnh rộng (ngữ cảnh văn hóa, xã hội, các yếu tố phi ngôn) để phân tích cơ chế tạo nghĩa và phân bổ thông tin.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối chiếu CTTT giữa câu hỏi chính danh và câu hỏi phi chính danh; đối chiếu mối quan hệ giữa câu hỏi và câu trả lời tương hợp nhằm xác định các bước dịch chuyển tiêu điểm.
- Phương pháp hệ thống hóa: Phân loại, sắp xếp các mô hình câu hỏi theo phương tiện ngôn ngữ biểu đạt và quy luật phân bố thành phần thông tin.
- Thủ pháp bổ trợ: Thu thập ngữ liệu, phân loại, thống kê mô tả cấu trúc, tổng hợp lý giải.
3. Nguồn tư liệu và ngữ liệu
- Tài liệu tham khảo: Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về câu hỏi tiếng Việt và lý thuyết CTTT trong nước, sách dịch và các chuyên luận tiếng Anh của các tác giả quốc tế (K. Lambrecht, M. Halliday, J. Lyons, S. Dik, R. Dooley, M. Steedman...).
- Nguồn ngữ liệu: Ba nguồn ngữ liệu thực tế bao gồm:
- Ngữ liệu trích dẫn từ các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước;
- Ngữ liệu thu thập trực tiếp từ giao tiếp hội thoại hàng ngày của người Việt;
- Ngữ liệu trích xuất từ tác phẩm văn học và báo chí tiếng Việt.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 1 thiết lập nền tảng lý thuyết cho toàn bộ luận án qua bốn nội dung cơ bản:
- Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói, giữa câu và phát ngôn: Luận án khẳng định câu là đơn vị thuộc hệ thống ngôn ngữ, trong khi phát ngôn là đơn vị lời nói hành chức phụ thuộc vào ngữ cảnh. Phân tích ngữ cảnh quy định nghĩa của phát ngôn ở ba mức độ: nhận diện câu được nói ra, làm rõ mệnh đề được biểu hiện, và xác định lực ngôn trung cụ thể.
- Cấu trúc tương thích của câu hỏi: Phân tích các đặc điểm của cấu trúc tương thích gồm tính phù hợp (phù hợp với bức tranh thế giới, tính liên kết mạch lạc, vai giao tiếp, tính lịch sự), tính khuôn mẫu (chuẩn mực hóa theo thói quen giao tiếp), tính sáng tạo (chệch chuẩn để tạo hàm ngôn, đa tầng thông tin) và tính dự đoán (giúp nhân vật giao tiếp chuẩn bị phản hồi tương ứng). Hệ quả của việc sử dụng cấu trúc tương thích là một biểu thức hỏi có thể mang nhiều hàm ý khác nhau hoặc thực hiện đồng thời nhiều hành vi liên hoàn (chất vấn để bác bỏ, phủ định, nhắc nhở...).
- Lý thuyết ngữ dụng học: Tổng kết lý thuyết hành động ngôn từ, vai trò của nhân vật giao tiếp (Sp1, Sp2), quan hệ liên nhân trên hai trục: trục quyền uy (power - cố định) và trục thân cận (solidarity - biến động), khái niệm thể diện và phép lịch sự; lý thuyết lập luận và cấu trúc hội thoại (cuộc thoại -> đoạn thoại -> cặp kế cận -> tham thoại -> hành vi ngôn ngữ).
- Cấu trúc thông tin và câu hỏi: Luận án phân tích sự khác biệt giữa CTTT với cấu trúc Đề - Thuyết và cấu trúc thông báo của trường phái Praha (bác bỏ tính hình tuyến tuyệt đối của tỉ lực thông báo). Luận án chấp nhận mô hình lưỡng phân của K. Lambrecht gồm TGĐ ND và XN ND.
| Tiêu chí |
Tiền giả định ngữ dụng (TGĐ ND) |
Xác nhận ngữ dụng (XN ND) |
| Đặc điểm bản chất |
Thông tin cũ, mang tính xác định, có sẵn |
Thông tin mới, được thông báo |
| Vai trò chức năng |
Làm nền tảng, tiền đề để xác định thông tin mới |
Chứa đựng nội dung Sp1 muốn truyền đạt và Sp2 tiếp nhận |
| Phân loại cụ thể |
TGĐ ngữ cảnh, ngôn cảnh, văn hóa, kiến thức, nhận thức, tồn tại |
Thông tin hiển ngôn, thông tin hàm ngôn |
| Hiện tượng bất thường |
Vượt cấp TGĐ ND; Lùi TGĐ ND |
Vượt cấp XN ND; Lùi XN ND |
| Cấu trúc hạt nhân |
Vùng giả định (hoạt biến theo điểm, theo vùng, theo khoảng) |
Tiêu điểm (TĐ tham tố, TĐ vị ngữ, TĐ câu) |
Chương 2: Cấu trúc thông tin câu hỏi tiếng Việt
Chương 2 là nội dung trọng tâm miêu tả cấu trúc thông tin của câu hỏi tiếng Việt qua các trường hợp sử dụng:
- Vai trò của câu trả lời trong việc xác định CTTT: Luận án khẳng định câu trả lời tương hợp là công cụ nghiệm chứng chính xác nhất để phân lập phần TGĐ ND và xác định hạt nhân tiêu điểm trong XN ND của câu hỏi.
- Hai thành phần thông tin của câu hỏi chính danh tiếng Việt:
- Bản chất: Câu hỏi chính danh có mục đích thu nhận thông tin (lực ngôn trung trực tiếp). Thành phần XN ND là cái chưa biết, cần biết (khoảng trống thông tin), tập trung vào tiêu điểm nghi vấn (TĐ NV); thành phần TGĐ ND là phần thông tin đã biết/xác định làm tiền đề.
- Khảo sát theo các phương tiện hình thức:
- Câu hỏi có tiểu từ tình thái đứng cuối (
à, ư, sao, hả, nhỉ, chứ...): TĐ NV nằm ở tiểu từ tình thái và nội dung sự tình chịu sự tác động tình thái.
- Câu hỏi có vị từ (ngữ vị từ) tình thái mang nghĩa nghi vấn đứng đầu (
có phải..., phải chăng...): TĐ NV nhấn mạnh vào tính chân thực của sự tình.
- Câu hỏi chứa cặp từ đối lập (
có - không, đã - chưa): TĐ NV khu biệt sự lựa chọn giữa hai trạng thái khẳng định hoặc phủ định của sự tình.
- Câu hỏi có ngữ vị từ nghi vấn đứng cuối (
...được không?, ...phải không?): TĐ NV tập trung vào sự xác nhận đánh giá.
- Câu hỏi chứa từ "hay" chỉ sự lựa chọn: TĐ NV nằm ở các vế lựa chọn đối lập.
- Câu hỏi chứa đại từ nghi vấn (
ai, gì, đâu, bao giờ, sao, thế nào...): TĐ NV rơi đúng vào đại từ nghi vấn (TĐ tham tố hẹp).
- Hai thành phần thông tin của câu hỏi phi chính danh tiếng Việt:
- Bản chất: Câu hỏi phi chính danh có mục đích truyền đạt thông tin (lực ngôn trung gián tiếp). Câu hỏi không nhằm lấp khoảng trống nhận thức mà dùng hình thức hỏi để khẳng định, phủ định, cầu khiến, đe dọa, cảm thán.
- Đặc điểm CTTT: Cả người hỏi và người nghe đều đã biết câu trả lời; TĐ NV hình thức bị vô hiệu hóa hoặc chuyển thành tiêu điểm thông tin tương phản (TĐ TTTP), tiêu điểm thông tin pha tạp (TĐ TTPT), hoặc tiêu điểm mang tính hiển nhiên/thứ yếu.
- Mối quan hệ và các bước chuyển CTTT từ chính danh sang phi chính danh:
Luận án hệ thống hóa các bước biến đổi CTTT khi chuyển đổi đích ngữ dụng:
- Chuyển đổi bản chất TĐ: TĐ TTM chuyển thành TĐ mang tính hiển nhiên hoặc thứ yếu; TĐ TTM chuyển thành TĐ TTTP.
- Chuyển đổi vị trí: Chuyển đổi vị trí TĐ trong nội bộ thành phần TT XN ND; chuyển TĐ NV từ thành phần TT XN ND sang thành phần TT TGĐ ND.
- Chuyển vị trí tầm tác động nghi vấn (TTĐ NV) khỏi hạt nhân thông tin chính.
- Mở rộng phạm vi TĐ: Kết hợp thêm các yếu tố đánh giá, so sánh, đối lập, hoặc giải thích làm thay đổi hoàn toàn lực ngôn trung của phát ngôn.
Chương 3: Sự đánh dấu cấu trúc thông tin trong câu hỏi và vai trò của câu hỏi trong tương tác hội thoại
Chương 3 khảo sát các phương tiện biểu hiện cụ thể và chức năng tương tác của câu hỏi:
- Vai trò của các phương tiện ngôn ngữ trong việc đánh dấu TĐ:
- Phương tiện ngữ âm: Trọng âm cường điệu, sự nhấn giọng, và ngữ điệu (nâng cao giọng cuối câu hoặc chuyển đổi đường nét ngữ điệu) có vai trò phân định ranh giới đơn vị thông tin và làm nổi bật tiêu điểm thông tin tương phản.
- Phương tiện từ vựng: Hệ thống đại từ nghi vấn, tiểu từ tình thái, các từ đánh dấu tiêu điểm (
chính, ngay, chỉ, thì...) và các cặp từ nối định hướng phạm vi nghi vấn.
- Phương tiện ngữ pháp: Trật tự từ, hiện tượng đảo trật tự thành phần câu, tách đề, đưa phần đối lập lên đầu câu tạo đề tương phản (đề mang thông tin mới).
- Vai trò của các cấu trúc thông tin câu hỏi trong hội thoại:
- Điều hành và tổ chức vận động hội thoại:
- Mở thoại: Sử dụng câu hỏi chào hỏi, gợi mở, thiết lập tiếp xúc (
Đi đâu đấy?, Ăn cơm chưa?).
- Thân thoại: Dẫn dắt chủ đề, duy trì tương tác, kiểm tra sự chú ý của đối tác, điều chỉnh và hiệu chỉnh thông tin đang trao đổi.
- Kết thoại: Đóng cuộc thoại, thăm dò, dặn dò (
Được chưa?, Nhớ nhé?).
- Tín hiệu phản hồi và liên hòa phối lượt lời: Câu hỏi dùng để đáp lại lượt lời trước (hỏi lại để xác nhận, hỏi để từ chối, hỏi để chất vấn hoặc giành quyền điều khiển thoại trường).
- Thương lượng hội thoại và thiết lập quan hệ liên nhân: Điều chỉnh vị thế giao tiếp trên trục quyền uy và trục thân cận; áp dụng chiến lược lịch sự gián tiếp (dùng câu hỏi cầu khiến để giảm tính áp đặt, giữ gìn thể diện cho đối tác giao tiếp).
Kết quả và những đóng góp mới
1. Đóng góp mới về mặt lý thuyết
- Vận dụng nhất quán và có hệ thống lý thuyết CTTT của K. Lambrecht (1994) vào việc miêu tả ngữ pháp - ngữ dụng câu hỏi tiếng Việt, chứng minh CTTT tồn tại khách quan và chi phối việc lựa chọn hình thức biểu đạt ngôn ngữ.
- Làm rõ cấu trúc lưỡng phân TGĐ ND - XN ND trong câu hỏi tiếng Việt, khắc phục sự đồng nhất khiên cưỡng giữa cấu trúc thông tin với cấu trúc Đề - Thuyết hoặc cấu trúc cú pháp truyền thống.
- Xây dựng thành công mô hình cấu trúc tương thích, giải thích thỏa đáng mối quan hệ giữa câu (thuộc hệ thống ngôn ngữ) và phát ngôn (thuộc hoạt động lời nói trong ngữ cảnh).
- Hệ thống hóa tường minh cơ chế và các bước chuyển dịch CTTT từ câu hỏi chính danh (thu nhận thông tin) sang câu hỏi phi chính danh (truyền đạt thông tin/hành vi gián tiếp).
2. Đóng góp mới về mặt thực tiễn và ứng dụng
- Giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ: Cung cấp cơ sở khoa học giúp người nước ngoài hiểu rõ sự đa dạng, tinh tế của câu hỏi tiếng Việt, đặc biệt là cách sử dụng các tiểu từ tình thái và các phát ngôn hỏi mang hàm ý gián tiếp trong giao tiếp thực tế.
- Giảng dạy tiếng Việt trong nhà trường phổ thông: Hỗ trợ giáo viên và học sinh phương pháp phân tích câu theo hướng xử lý thông tin; giải thích căn nguyên vì sao cùng một cấu trúc hình thức hỏi lại có thể thực hiện nhiều đích ngữ dụng khác nhau trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.
- Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt: Định hướng việc sử dụng câu hỏi tương thích với chuẩn mực văn hóa giao tiếp và nâng cao năng lực ngữ dụng cho người bản ngữ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu chuyên sâu vào đối tượng câu hỏi và phát ngôn có hình thức hỏi trong tiếng Việt, chưa mở rộng khảo sát đồng bộ trên toàn bộ các kiểu câu khác trong hệ thống ngôn ngữ.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi áp dụng khung lý thuyết CTTT của K. Lambrecht sang các kiểu câu khác như câu trần thuật, câu cầu khiến, câu cảm thán tiếng Việt.
- Khảo sát sâu hơn hoạt động của CTTT trong các thể loại diễn ngôn đặc thù (diễn ngôn báo chí, diễn ngôn pháp luật, diễn ngôn học thuật...).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết CTTT, phương pháp phân tích ngữ dụng - chức năng và cách thức xử lý mối quan hệ giữa ngữ cảnh và cấu trúc câu.
- Giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài: Tham khảo hệ thống phân loại các biến thể câu hỏi, ý nghĩa của các tiểu từ tình thái cuối câu và cơ chế biểu đạt hàm ngôn của phát ngôn hỏi.
- Giáo viên môn Ngữ văn trường phổ thông: Tham khảo phần phân tích cấu trúc tương thích và phân đoạn thông tin câu hỏi để biên soạn bài giảng về ngữ pháp chức năng, hoạt động giao tiếp và ngữ dụng học.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt câu hỏi chính danh và câu hỏi phi chính danh dựa trên tiêu chí nào của CTTT?
Luận án phân biệt dựa trên đích ngữ dụng và bản chất của thành phần Xác nhận ngữ dụng (XN ND):
- Câu hỏi chính danh: Có lực ngôn trung trực tiếp nhằm thu nhận thông tin; thành phần XN ND chứa tiêu điểm nghi vấn (TĐ NV) biểu thị cái chưa biết, cần biết (khoảng trống thông tin cần người nghe lấp đầy).
- Câu hỏi phi chính danh: Có lực ngôn trung gián tiếp nhằm truyền đạt thông tin hoặc thực hiện hành vi khác hỏi; thông tin sự tình vốn đã được xác lập trong nhận thức của các nhân vật giao tiếp, TĐ NV hình thức chuyển hóa thành tiêu điểm thông tin tương phản (TĐ TTTP), tiêu điểm thứ yếu hoặc mở rộng phạm vi tiêu điểm bằng các yếu tố đánh giá, cảm thán, bác bỏ.
2. Khái niệm "Cấu trúc tương thích" được luận án định nghĩa như thế nào?
Cấu trúc tương thích là kết quả của quá trình lựa chọn và cấu trúc hóa các yếu tố ngôn ngữ, xác lập hiệu lực giao tiếp dựa trên mối quan hệ suy ý của thông tin hiển ngôn và hàm ngôn, phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp và năng lực ngữ dụng của người tiếp nhận, phục vụ cho những chiến lược giao tiếp nhất định. Cấu trúc này mang bốn đặc tính: tính phù hợp, tính khuôn mẫu, tính sáng tạo và tính dự đoán.
3. Sự khác nhau giữa cấu trúc thông tin (CTTT) và cấu trúc Đề - Thuyết theo quan điểm của luận án là gì?
Luận án theo quan điểm của K. Lambrecht và Cao Xuân Hạo khẳng định CTTT không đồng nhất đối một với cấu trúc Đề - Thuyết:
- Cấu trúc Đề - Thuyết nằm trên bình diện kết học/logic - ngôn từ của mệnh đề.
- CTTT thuộc bình diện ngữ dụng, phản ánh trạng thái nhận thức của nhân vật giao tiếp. Thông tin mới (XN ND) và tiêu điểm không nhất thiết phải nằm ở phần Thuyết; trong trường hợp đề tương phản (đề đánh dấu), phần Đề ở đầu câu hoàn toàn có thể mang thông tin mới của phát ngôn.
4. Luận án xác định câu trả lời có vai trò gì đối với câu hỏi?
Theo quan điểm ngữ pháp chức năng mà luận án tiếp thu, câu trả lời tương hợp là tiêu chí quan trọng giúp nhận diện và xác định nghĩa của câu hỏi. Khi phân tích CTTT, câu trả lời đóng vai trò làm công cụ đối chiếu để phân lập ranh giới giữa phần tiền giả định đã có và hạt nhân tiêu điểm thông tin mà câu hỏi yêu cầu cung cấp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Mai đã vận dụng khung lý thuyết Cấu trúc thông tin của K. Lambrecht để miêu tả toàn diện, có hệ thống đặc điểm câu hỏi tiếng Việt trên cả hai bình diện thu nhận và truyền đạt thông tin. Công trình đã làm sáng tỏ cơ chế phân bổ hai thành phần Tiền giả định ngữ dụng - Xác nhận ngữ dụng, quy luật chuyển hóa tiêu điểm từ câu hỏi chính danh sang phi chính danh và đề xuất khái niệm cấu trúc tương thích trong tương tác hội thoại. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở lý luận cho ngành Lý luận ngôn ngữ và mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cũng như dạy học Ngữ văn trong nhà trường.