Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quản lý nhà nước về cấp quyền khai thác khoáng sản (KTKS) giữ vai trò trọng yếu trong việc khẳng định quyền sở hữu của Nhà nước đối với tài nguyên thiên nhiên, thiết lập kỷ cương trong hoạt động khai khoáng, tạo nguồn thu cho ngân sách và giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường - xã hội. Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12 ra đời đánh dấu bước chuyển dịch quan trọng từ cơ chế "xin - cho" sang cơ chế đấu giá quyền KTKS (ĐGQKTKS) và thu tiền cấp quyền khai thác (đối với các khu vực không thông qua đấu giá), nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, bình đẳng giữa các nhà đầu tư và lựa chọn doanh nghiệp đủ năng lực tài chính, công nghệ.

Quảng Trị là địa phương có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng với khoảng 220 mỏ, khu mỏ và điểm quặng thuộc các nhóm khoáng sản kim loại, phi kim loại, vật liệu xây dựng (VLXD) và nước khoáng - nước nóng. Tuy nhiên, đặc điểm tài nguyên của tỉnh là trữ lượng không lớn, chất lượng không cao và phân bố rải rác. Để cụ thể hóa các quy định của Luật Khoáng sản và các nghị định hướng dẫn, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Quảng Trị đã ban hành Quyết định số 3330/QĐ-UBND ngày 27/12/2016 phê duyệt quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản tỉnh Quảng Trị đến năm 2020, có tính đến năm 2030. Dù vậy, trong quá trình triển khai thực tế giai đoạn 2016–2020, công tác quản lý nhà nước về cấp quyền KTKS tại địa phương nảy sinh nhiều vướng mắc: tính minh bạch trong thu nộp chưa cao, khó khăn trong bàn giao mặt bằng sạch cho đơn vị trúng đấu giá, và giá trị tăng thêm qua đấu giá chưa đạt kỳ vọng.

Đề tài chuyên đề tốt nghiệp tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Mục tiêu tổng thể: Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về cấp quyền KTKS tại tỉnh Quảng Trị và đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý trên địa bàn.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
    • Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý về quản lý nhà nước đối với hoạt động cấp quyền KTKS.
    • Phân tích thực trạng thực thi hai hình thức cấp quyền KTKS (thông qua đấu giá và không thông qua đấu giá) tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2016–2020, chỉ rõ những kết quả đạt được, khó khăn, bất cập và nguyên nhân.
    • Đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể đối với cơ quan lập pháp/lập quy và chính quyền địa phương nhằm nâng cao hiệu quả công tác cấp quyền KTKS.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý nhà nước về cấp quyền KTKS.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Quảng Trị.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2016–2020 (kèm số liệu theo dõi, cập nhật đến giữa năm 2021).
  • Phạm vi nội dung: Giới hạn trong công tác cấp quyền KTKS qua đấu giá và không qua đấu giá (thu tiền cấp quyền), không đi sâu vào các khâu kỹ thuật địa chất chuyên sâu hay điều tra cơ bản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Đề tài xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý tài nguyên thiên nhiên và quản lý công, gắn liền với các đặc trưng của tài nguyên khoáng sản: tính hữu hạn không tái tạo, rủi ro địa chất cao, mối quan hệ hữu cơ mật thiết với đất và nước, tác động trực tiếp đến môi trường sinh thái, và tính chất không phân chia theo địa giới hành chính.

Hệ thống công cụ quản lý nhà nước được tác giả phân định thành ba nhóm: công cụ pháp lý (hệ thống luật, nghị định, thông tư), công cụ quy hoạch (chiến lược, quy hoạch phân vùng thăm dò - khai thác), và công cụ kinh tế (thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, tiền cấp quyền KTKS).

Khung khổ pháp lý và văn bản quy phạm được trích dẫn và sử dụng trực tiếp trong nghiên cứu gồm:

  • Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12: Quy định nguyên tắc chung, thẩm quyền và căn cứ tài chính về khoáng sản (Điều 26, Điều 77, Điều 78, Điều 79).
  • Luật Đấu giá tài sản số 01/2016/QH14: Cơ sở pháp lý về trình tự, thủ tục đấu giá tài sản.
  • Quyết định số 06/2006/QĐ-BTNMT và Thông tư số 60/2017/TT-BTNMT: Quy định tiêu chuẩn phân cấp trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn theo 3 mức hiệu quả kinh tế (1, 2, 3), 3 mức khả thi kỹ thuật (1, 2, 3) và 4 mức tin cậy địa chất (1 - chắc chắn, 2 - tin cậy, 3 - dự tính, 4 - dự báo gồm 4a suy đoán và 4b phỏng đoán).
  • Nghị định số 22/2012/NĐ-CP và Nghị định số 158/2016/NĐ-CP: Quy định về đấu giá quyền KTKS và các điều kiện tham gia đấu giá (vốn chủ sở hữu tối thiểu 30% tổng vốn đầu tư, quy định số lượng tối thiểu 2 tổ chức tham gia).
  • Thông tư số 16/2014/TT-BTNMT: Quy chế hoạt động của Hội đồng đấu giá quyền KTKS.
  • Nghị định số 203/2013/NĐ-CP và văn bản thay thế Nghị định số 67/2019/NĐ-CP: Quy định chi tiết phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền KTKS theo công thức: $$T = Q \times G \times K_1 \times K_2 \times R$$ Trong đó: $T$ là tiền cấp quyền (đồng); $Q$ là trữ lượng tính tiền cấp quyền ($m^3$, tấn, kg); $G$ là giá tính tiền cấp quyền theo giá tính thuế tài nguyên; $K_1$ là hệ số thu hồi theo phương pháp khai thác (lộ thiên $K_1=0,9$; hầm lò $K_1=0,6$; nước khoáng/khác $K_1=1,0$); $K_2$ là hệ số địa bàn khó khăn ($K_2=0,95$), đặc biệt khó khăn ($K_2=0,9$), còn lại ($K_2=1,0$); $R$ là mức thu tiền cấp quyền (%).

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp, rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và tỉnh Quảng Trị; trích xuất dữ liệu từ các Báo cáo tình hình quản lý nhà nước về khoáng sản các năm 2017, 2018, 2019 của UBND tỉnh Quảng Trị; số liệu thống kê nợ đọng thuế từ Cục Thuế tỉnh Quảng Trị và Tổng cục Thuế.
  • Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến đóng góp, tham vấn chuyên môn từ giảng viên hướng dẫn (PGS. Đinh Đức Trường) và cán bộ nghiên cứu tại Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) / Liên minh Khoáng sản.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về cấp quyền KTKS

Chương này tập trung làm rõ bản chất kinh tế - pháp lý của hoạt động cấp quyền KTKS, phân cấp trữ lượng khoáng sản rắn và tổng kết bài học kinh nghiệm quốc tế:

  • Bản chất và nguyên tắc QLNN về cấp quyền KTKS: Là việc cơ quan có thẩm quyền thực hiện phân bổ quyền khai thác qua thu tiền cấp quyền hoặc tổ chức đấu giá nhằm điều tiết địa tô tài nguyên vào ngân sách, buộc tổ chức/cá nhân tuân thủ 5 nguyên tắc: tuân thủ chính sách pháp luật, khai thác bền vững, công khai minh bạch, bình đẳng công bằng, và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước - doanh nghiệp - cộng đồng địa phương.
  • Hệ thống phân cấp trữ lượng khoáng sản rắn: Thể hiện mối tương quan giữa mức độ nghiên cứu địa chất và tính khả thi kinh tế (từ cấp trữ lượng 111 chắc chắn đến cấp tài nguyên 334b phỏng đoán).
Mức độ nghiên cứu địa chất / Mức độ hiệu quả kinh tế Chắc chắn (1) Tin cậy (2) Dự tính (3) Dự báo - Suy đoán (4a) Dự báo - Phỏng đoán (4b)
Có hiệu quả kinh tế (1) Trữ lượng 111 Trữ lượng 121, 122 - - -
Có tiềm năng hiệu quả kinh tế (2) Tài nguyên 211 Tài nguyên 221, 222 - - -
Chưa rõ hiệu quả kinh tế (3) Tài nguyên 331 Tài nguyên 332 Tài nguyên 333 Tài nguyên 334a Tài nguyên 334b
  • Thực tiễn triển khai chính sách tại Việt Nam:
    • Về ĐGQKTKS: Nghị định 158/2016/NĐ-CP ra đời đã tháo gỡ nút thắt số lượng tổ chức tham gia (giảm từ 3 xuống 2 đơn vị). Phiên đấu giá thành công đầu tiên trên cả nước diễn ra ngày 28/9/2018 tại mỏ quặng sắt Nam Phia Đam (tỉnh Bắc Kạn). Đến năm 2019, cả nước phê duyệt 582 khu vực, trong đó đấu giá thành công 304 khu vực với tổng giá trị 858 tỷ đồng.
    • Về thu tiền cấp quyền KTKS: Đến hết tháng 5/2019, tổng số tiền cấp quyền phê duyệt toàn quốc đạt 49.558 tỷ đồng, số thực nộp ngân sách đạt 22.831 tỷ đồng (bình quân 4.000 – 4.500 tỷ đồng/năm). Nguồn thu từ đấu giá thực tế chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với thu không qua đấu giá.
  • Kinh nghiệm quốc tế:
    • Chi Lê: Tài nguyên thuộc Nhà nước nhưng đất đai thuộc sở hữu tư nhân; việc cấp phép cần thỏa thuận bằng văn bản với chủ đất; thời hạn cấp phép 4–5 tháng và cho phép chuyển nhượng giấy phép khai thác; mức thu dao động 0,5% – 5%.
    • Trung Quốc: Toàn bộ khoáng sản thuộc sở hữu Nhà nước do Quốc vụ viện quản lý thống nhất; áp dụng chế độ cấp phép có thu tiền bồi thường tài nguyên và tính thuế tài nguyên dựa trên diện tích khai thác hàng năm.
    • Colombia: Đứng đầu Mỹ La-tinh về trữ lượng than (chiếm 40%); việc cấp quyền do Viện Địa chất và KTKS Colombia (INGEOMINAS) quản lý thông qua hợp đồng khai khoáng theo Luật 1382 năm 2010.
Quốc gia Nhóm khoáng sản Mức thu tiền cấp quyền / bản quyền (%)
Argentina Tất cả các loại khoáng sản 1% - 3%
Bolivia Vàng (4% - 7%); Bạc (3% - 6%); Chì, thiếc, đồng 1% - 5%
Brazil Nhôm (3%); Đồng, sắt (2%); Vàng (1%); Khác 2%
Chile Tất cả các loại khoáng sản 0,5% - 5%
Colombia Nikel (12%); Than (2% - 5%); Đồng, sắt (5%); Vàng, bạc (4% - 6%); Khác 5%
Ecuador Tất cả các loại khoáng sản 5%
Peru Tất cả các loại khoáng sản 1% - 3%

Chương 2. Thực tiễn quản lý nhà nước về cấp quyền KTKS tại tỉnh Quảng Trị

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về tiềm năng tài nguyên, đóng góp kinh tế ngành khai khoáng và thực trạng quản lý cấp quyền KTKS trên địa bàn tỉnh:

  • Tiềm năng tài nguyên khoáng sản tỉnh Quảng Trị:

    • Vàng: 19 điểm quặng và 3 điểm khoáng hóa tập trung ở Đakrông, Hướng Hóa, Vĩnh Linh; tài nguyên dự báo gần 48 tấn; đã thăm dò mỏ vàng A Bung, A Vao với trữ lượng cấp 122 đạt 814,91 kg.
    • Titan sa khoáng: Phân bố ven biển từ Vĩnh Linh đến Hải Lăng, tài nguyên dự báo trên 1,7 triệu tấn.
    • Đồng & Sắt: Điểm quặng đồng Tà Rẹc (xã Ba Nang, Đakrông) có tài nguyên dự báo 150 tấn; 19 điểm quặng sắt với tổng tài nguyên dự báo 3,55 triệu tấn (chủ yếu dùng làm phụ gia xi măng).
    • Khoáng sản phi kim loại và VLXD: Đá vôi xi măng dự báo gần 3,7 tỷ tấn (riêng mỏ Tà Rùng khoảng 3 tỷ tấn; mỏ khối D - Tân Lâm có trữ lượng cấp 121, 122); sét xi măng 65 triệu tấn; đá bazan phụ gia xi măng trên 150 triệu tấn; cát trắng Gio Linh 124 triệu tấn; sét gạch ngói mỏ Dốc Són (Hải Lăng) khai thác đạt sản lượng 99,769 ngàn $m^3$ tính đến hết năm 2015.
  • Vai trò của ngành khai khoáng trong cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Trị:

Chỉ tiêu kinh tế Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
Tăng trưởng ngành khai khoáng so với năm trước 8,52% 11,12% 3,14%
Tổng sản phẩm (GRDP) ngành khai khoáng 229,73 tỷ đồng 476,859 tỷ đồng 267,962 tỷ đồng
Tỷ trọng trong tổng GRDP toàn tỉnh 0,93% 1,73% 0,84%
Tổng vốn đầu tư thực hiện 70,948 tỷ đồng 120,820 tỷ đồng 116,737 tỷ đồng
Số lượng doanh nghiệp khai khoáng hoạt động 21 doanh nghiệp 23 doanh nghiệp 28 doanh nghiệp
Số lượng lao động ngành khai khoáng 1.213 người 1.248 người Đang mở rộng
Thu nhập bình quân của người lao động 4,478 triệu đ/tháng 5,195 triệu đ/tháng 4,681 triệu đ/tháng
  • Thực tiễn cấp quyền KTKS không thông qua đấu giá (tiền cấp quyền):

    • Tỉnh đã khoanh định danh mục các khu vực không đấu giá theo Điều 12 Nghị định 15/2012/NĐ-CP và Quyết định 3330/QĐ-UBND (gồm các mỏ cát sỏi sông Thạch Hãn, sông Nhùng, Mỹ Chánh, Vĩnh Tú; các mỏ đá VLXD Vĩnh Hòa, Cam Nghĩa, Hướng Hiệp, Bản Hiếu, Tân Lâm; các điểm than bùn Hải Lăng; mỏ nhỏ lẻ A Bung, Thủy Khê, Làng Hồ).
    • Thu ngân sách: Năm 2017 phê duyệt 7 dự án (5 mỏ, 2 nạo vét), tổng thu định kỳ đạt 13,618 tỷ đồng. Năm 2018 thực thu 11,164 tỷ đồng (thu định kỳ 10,2 tỷ đồng, trong đó giấy phép cấp tỉnh 2,3 tỷ đồng, Bộ TN&MT cấp 7,9 tỷ đồng). Nguồn thu chủ yếu đến từ cát trắng (nộp 3,792 – 3,869 tỷ đồng/năm) và đá VLXD (năm 2019 cấp phép 471.234 tấn, nộp ngân sách 1,082 tỷ đồng).
  • Thực tiễn ĐGQKTKS tại Quảng Trị:

    • Giai đoạn 2017–2019, tỉnh phê duyệt và tổ chức đấu giá 7 điểm mỏ khoáng sản chưa qua thăm dò với quy định giá khởi điểm: cát sỏi VLXD $R=5%$; đá VLXD $R=3%$; titan sa khoáng $R=2%$; bước giá chung $0,2%$; tiền đặt trước $5% - 15%$ giá khởi điểm.
    • Mức vốn đầu tư định mức quy định: mỏ đá VLXD 8,5 tỷ đồng; mỏ cát sỏi 2,5 tỷ đồng; mỏ titan 8,5 tỷ đồng (yêu cầu vốn chủ sở hữu $\ge 30%$).
Năm Loại khoáng sản Tên khu vực mỏ đấu giá Diện tích (ha) Giá khởi điểm Giá trị trúng ($R$) Tiền trúng đấu giá Tình trạng cấp phép
2017 Cát, sỏi Mỏ Ba Lòng (khu A), Đakrông 12,5 $R=5%$ $5,4%$ 2.000 triệu đ (dự kiến) Đang lập hồ sơ
2017 Cát, sỏi Mỏ Ba Lòng (khu B), Đakrông 13,5 $R=5%$ $5,8%$ 1.000 triệu đ Đã trình UBND tỉnh
2017 Cát, sỏi Mỏ Ba Lòng (khu B khu vực II), Đakrông 31,7 $R=5%$ $5,4%$ 4.000 triệu đ Đã có Quyết định
2017 Cát, sỏi Mỏ cát sỏi TH8 (Vực Ang - Như Lệ, TX Quảng Trị) 3.619 $R=5%$ $5,6%$ Đang xác định Đang lập hồ sơ
2018 Đá VLXD Mỏ đá xã Hải Sơn, huyện Hải Lăng 48,6 $R=3%$ $3,4%$ 41.395 triệu đ (dự kiến) Đang lập hồ sơ
2018 Quặng Titan Mỏ Thủy Khê (thôn Thủy Khê, Gio Mỹ, Gio Linh) 7,9 $R=2%$ $2,6%$ 137.000 triệu đ Đã có Quyết định
2019 Cát, sỏi Mỏ BH1 (xã Linh Thượng, Gio Linh & Vĩnh Hà, Vĩnh Linh) 10,4 $R=5%$ $5,4%$ 860.000 triệu đ Đã có Quyết định
  • Các hạn chế, bất cập và nguyên nhân trong công tác quản lý:
    1. Nợ đọng tiền cấp quyền lớn: Đến giữa năm 2021, toàn tỉnh còn 19 tỷ đồng tiền cấp quyền chưa thu hồi được từ 10 doanh nghiệp; trong đó 2 đơn vị nợ lớn nhất là mỏ Vàng và Công ty Khoáng sản Bốn (nợ trên 2 tỷ đồng). Nguyên nhân do doanh nghiệp có trụ sở ngoài tỉnh, cơ quan thuế Quảng Trị không đủ thẩm quyền cưỡng chế tài khoản/hóa đơn.
    2. Vướng mắc giải phóng mặt bằng: Doanh nghiệp sau trúng đấu giá không đạt được thỏa thuận bồi thường đất với người dân địa phương dẫn đến đình trệ dự án và chậm nộp tiền cấp quyền.
    3. Nguy cơ thất thu ngân sách: Cơ quan thuế thu tiền dựa trên hồ sơ tự kê khai của doanh nghiệp, không có thẩm quyền kiểm tra đo đạc thực tế khối lượng tại các mỏ chìm (cát sỏi lòng sông); thiếu sự phối hợp trực tiếp giữa Sở TN&MT và cơ quan thuế (thuế không tham gia hội đồng đấu giá hay các đợt kiểm tra thực địa).
    4. Bất cập về định giá và phân cấp trữ lượng: Giá tính tiền cấp quyền áp dụng đồng nhất theo giá tính thuế tài nguyên của tỉnh, đánh đồng mức thu giữa các cấp trữ lượng (cấp 111 có độ tin cậy 80% bị tính cùng mức với cấp 122 có độ tin cậy chỉ 50%).
    5. Thiếu tham số "chất lượng khoáng sản" trong công thức tính: Công thức tính tiền cấp quyền theo Nghị định 203 và Nghị định 67 ($T = Q \times G \times K_1 \times K_2 \times R$) chưa có tham số chất lượng. Tác giả chứng minh qua trường hợp 2 mỏ vàng gốc: Mỏ A (2 tấn vàng, quặng xâm tán khó thu hồi) phải nộp tiền cấp quyền cao hơn Mỏ B (1 tấn vàng, vàng tự sinh dễ thu hồi, giá trị thực tế cao hơn), gây bất bình đẳng cho doanh nghiệp và không khuyến khích tận thu tài nguyên.

Chương 3. Kết luận và kiến nghị hoàn thiện chính sách về cấp quyền KTKS

Dựa trên các phát hiện thực tế tại tỉnh Quảng Trị, chương 3 đưa ra các dự báo hoạt động và hệ thống giải pháp phân định theo thẩm quyền:

  • Dự báo hoạt động khoáng sản: Hoạt động khai thác khoáng sản làm VLXD thông thường và công nghiệp xi măng tiếp tục đóng vai trò chủ đạo nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng giai đoạn 2021–2025.
  • Kiến nghị đối với cơ quan làm luật (Trung ương):
    • Sửa đổi công thức tính tiền cấp quyền KTKS tại các nghị định hướng dẫn, bổ sung tham số đánh giá chất lượng khoáng sản và hệ số điều kiện địa chất - mỏ thực tế thay vì chỉ dùng hệ số $K_1$ (lộ thiên/hầm lò).
    • Phân định rõ mức thu tiền cấp quyền theo từng cấp trữ lượng (111, 121, 122) để phản ánh đúng mức độ tin cậy địa chất và chia sẻ rủi ro thăm dò cho doanh nghiệp.
    • Đồng bộ hóa các quy định giữa Luật Khoáng sản, Nghị định 22/2012/NĐ-CP với Luật Đấu giá tài sản 2016 và Luật Đất đai 2013, làm rõ giá trị pháp lý của văn bản trúng đấu giá quyền KTKS gắn với quyền sử dụng đất.
  • Kiến nghị đối với chính quyền địa phương (tỉnh Quảng Trị):
    • Thiết lập quy chế phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa Sở TN&MT, Cục Thuế và Sở Kế hoạch & Đầu tư; bắt buộc đưa đại diện cơ quan thuế tham gia Hội đồng đấu giá quyền KTKS và đoàn giám sát thực địa.
    • Hỗ trợ công tác giải phóng mặt bằng, tạo cơ chế thỏa thuận đất đai minh bạch giữa người dân và doanh nghiệp trước khi phê duyệt cấp phép.
    • Tăng cường công tác hậu kiểm, kiểm tra sản lượng khai thác thực tế bằng công nghệ đo vẽ hiện đại nhằm ngăn chặn thất thoát tài nguyên và chống thất thu thuế.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại những kết quả và đóng góp thực tiễn cụ thể:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở dữ liệu thực chứng: Tổng hợp đầy đủ dữ liệu về 220 điểm mỏ, danh mục các mỏ không qua đấu giá và kết quả chi tiết của 7 mỏ đưa ra đấu giá giai đoạn 2017–2019 tại Quảng Trị.
  • Nhận diện các nút thắt chính sách từ thực tiễn địa phương:
    • Chứng minh sự chênh lệch lớn giữa nguồn thu qua đấu giá và nguồn thu không qua đấu giá (toàn quốc thu đấu giá đạt 858 tỷ đồng so với 22.831 tỷ đồng tiền cấp quyền nộp ngân sách; tại Quảng Trị giá trị trúng đấu giá qua 7 mỏ chỉ tăng hệ số $R$ từ 0,4% đến 0,8%).
    • Chỉ ra con số nợ đọng cụ thể (19 tỷ đồng giữa năm 2021) và nguyên nhân pháp lý từ việc hạn chế thẩm quyền cưỡng chế thuế đối với các doanh nghiệp ngoại tỉnh.
  • Đóng góp về mặt học thuật và phản biện chính sách: Phân tích rõ lỗ hổng trong công thức tính tiền cấp quyền $T = Q \times G \times K_1 \times K_2 \times R$ theo Nghị định 203/2013/NĐ-CP và Nghị định 67/2019/NĐ-CP khi thiếu vắng tham số "chất lượng khoáng sản" và "cấp độ tin cậy trữ lượng", cung cấp luận cứ thực nghiệm giá trị cho việc sửa đổi các văn bản pháp luật ngành khoáng sản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Dữ liệu thực tế tại tỉnh Quảng Trị tập trung chủ yếu trong mốc thời gian 2016–2020 và số liệu nợ thuế đến giữa năm 2021.
    • Hầu hết các khu vực mỏ đấu giá tại địa phương mới dừng lại ở kết quả điều tra cơ bản địa chất cấp tài nguyên dự báo ($333 + 334a$), chưa có báo cáo thăm dò chi tiết nên việc tính toán định lượng chính xác giá trị kinh tế thực tế còn phụ thuộc vào kết quả thăm dò sau trúng đấu giá của doanh nghiệp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục theo dõi tác động kinh tế khi các văn bản quy phạm pháp luật mới thay thế Nghị định 22/2012/NĐ-CP được ban hành.
    • Xây dựng mô hình định lượng chi tiết cho tham số chất lượng khoáng sản và hệ số rủi ro địa chất tích hợp vào phần mềm quản lý thuế tài nguyên tại các địa phương.

Giá trị tham khảo

Chuyên đề tốt nghiệp là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên thuộc các chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kinh tế Tài nguyên, Quản lý Đất đai, Luật Kinh tế và Quản lý công khi nghiên cứu về cơ chế tài chính tài nguyên, chính sách ĐGQKTKS và tính tiền cấp quyền.
  • Cán bộ quản lý nhà nước tại các Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thuế, Sở Kế hoạch và Đầu tư tại các địa phương có điều kiện tự nhiên tương đồng, đặc biệt là các phần phân tích về quy trình phối hợp liên ngành, xử lý nợ đọng và giải quyết vướng mắc mặt bằng sau đấu giá.

Câu hỏi thường gặp

1. Công thức tính tiền cấp quyền KTKS hiện hành gồm những tham số nào và bộc lộ bất cập gì?

Công thức tính theo Nghị định 203/2013/NĐ-CP và Nghị định 67/2019/NĐ-CP là: $$T = Q \times G \times K_1 \times K_2 \times R$$ Trong đó gồm trữ lượng ($Q$), giá tính thuế ($G$), hệ số thu hồi theo phương pháp khai thác ($K_1$), hệ số khu vực khó khăn ($K_2$), và mức thu ($R$). Bất cập lớn nhất là công thức bỏ qua tham số "chất lượng khoáng sản" và đánh đồng các cấp trữ lượng (111 tin cậy 80% và 122 tin cậy 50%), dẫn đến hiện tượng mỏ có chất lượng quặng thấp, khó thu hồi lại phải nộp tiền cấp quyền cao hơn mỏ có quặng tự sinh giá trị cao.

2. Kết quả đấu giá quyền KTKS giai đoạn 2017–2019 tại tỉnh Quảng Trị ra sao?

Tỉnh đã tổ chức đấu giá thành công 7 khu vực mỏ khoáng sản chưa thăm dò (gồm cát sỏi Ba Lòng, cát sỏi TH8, đá VLXD Hải Sơn, titan Thủy Khê, cát sỏi BH1). Do mỏ chỉ ở cấp tài nguyên dự báo ($333 + 334a$) và bước giá áp dụng $0,2%$, mức giá trúng đấu giá ($R$) chỉ dao động từ $2,6%$ đến $5,8%$, tức chỉ tăng từ $0,4%$ đến $0,8%$ so với mức giá khởi điểm.

3. Nguyên nhân chính gây nợ đọng và thất thu tiền cấp quyền KTKS tại Quảng Trị là gì?

Đến giữa năm 2021, tỉnh tồn đọng 19 tỷ đồng tiền cấp quyền chưa thu từ 10 doanh nghiệp (trong đó mỏ Vàng và Khoáng sản Bốn nợ hơn 2 tỷ đồng). Nguyên nhân gồm: (1) Doanh nghiệp có trụ sở chính ngoài tỉnh khiến cơ quan thuế địa phương không có thẩm quyền cưỡng chế tài khoản/hóa đơn; (2) Vướng mắc bồi thường giải phóng mặt bằng với người dân địa phương; (3) Cơ quan thuế chỉ thu theo kê khai tự giác, thiếu thẩm quyền và công cụ kiểm tra khối lượng khai thác thực tế tại các mỏ lòng sông; (4) Thiếu sự phối hợp thực địa giữa ngành thuế và ngành tài nguyên - môi trường.

4. Tỉnh Quảng Trị quy định mức giá khởi điểm và tiền đặt trước trong ĐGQKTKS như thế nào?

Đối với các khu vực chưa thăm dò, mức giá khởi điểm quy định theo mức thu $R$: cát sỏi VLXD là $R=5%$; đá VLXD là $R=3%$; titan sa khoáng là $R=2%$. Tỷ lệ tiền đặt trước tính trên giá khởi điểm quy định là: titan $15%$, cát sỏi $10%$, đá VLXD thông thường $5%$.

5. Ngành khai khoáng đóng góp như thế nào vào kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2017–2019?

Ngành khai khoáng đóng góp từ 229,73 tỷ đồng (2017) đến 476,859 tỷ đồng (2018) và 267,962 tỷ đồng (2019) vào GRDP tỉnh, chiếm tỷ trọng từ $0,84%$ đến $1,73%$. Ngành giải quyết việc làm cho 1.213 đến trên 1.248 lao động tại 21–28 doanh nghiệp, với mức thu nhập bình quân từ 4,478 đến 5,195 triệu đồng/người/tháng.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp đã phản ánh toàn diện thực trạng công tác quản lý nhà nước về cấp quyền khai thác khoáng sản tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2016–2020 trên cả hai phương diện đấu giá và thu tiền cấp quyền. Nghiên cứu chỉ rõ các bất cập căn bản về cơ chế xác định giá, công thức tính tiền cấp quyền thiếu tham số chất lượng, cùng những rào cản liên ngành trong quản lý thuế và giải phóng mặt bằng tại địa phương. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm hoàn thiện chính sách khoáng sản ở cấp Trung ương và nâng cao hiệu lực quản lý tài nguyên tại tỉnh Quảng Trị.