CHƯƠNG 1. CO SỞ LY LUẬN VÀ THUC TIEN VE CAP QUYEN KTKS 1. Định nghĩa và phân loại khoáng sản Định nghĩa Theo địa chất học: “Khoáng sản được định nghĩa là các khoáng vật tự nhiên, các đá hoặc tập hợp có trong vỏ trái đất và được hình thành do các quá trình địa chất xác định, mà từ đó con người có thể lấy được kim loại, các hợp chất hay các loại khoáng vật đề sử dụng trong nền kinh tế quốc dân.” (Lê Cảnh Tuân, 2011) Theo Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12: “Khoáng san là khoáng vật, khoáng chất có ich được tích tụ tự nhiên ở thé ran, thé lỏng, thé khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ”. Như vây, “khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên hàng ngàn, hàng triệu năm ở thể rắn, lỏng, khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất.
Khoáng sản là loại tài nguyên hầu hết không tái tạo được và có số lượng hạn chế trong lòng đất”, mỗi quốc gia cần có quy hoạch, kế hoạch phù hợp dé bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên không tai tao. Phân loại Phân loại theo mục đích và công dụng, khoáng sản sẽ được chia thành những loại sau: Khoáng sản năng lượng, khoáng sản phi kim, khoáng sản kim loại, nguyên liệu đá màu, thủy khoáng, nguyên liệu khoáng — hóa. Theo trạng thái vật lý, khoáng san gồm 3 loại: Khoáng sản răn, khoáng sản lỏng, khoáng sản khí. Nghiên cứu này phân tích công tác quản lý nhà nước về cấp quyền KTKS do vậy sẽ sử dụng định nghĩa khoáng sản rắn và phân loại khoáng sản theo cấp tài nguyên và cấp trữ lượng của khoáng sản rắn.
Dac điểm tài nguyên khoáng sản Thứ nhât, khoáng sản là tài nguyên hữu hạn, gân như không có khả năng tái tạo. Khoáng sản đã hình thành và tích tụ ở một quy mô nhất định trong lòng đất trong suốt quá trình hoạt động địa chất kéo dai hàng triệu năm. Là nguồn tài nguyên hữu hạn nên đa phan các loại khoáng sản ran sau khi được khai thác và chế biến thì không thé tái tạo được. Vì lý do này, khi thực hiện hoạt động KTKS cần tính toán kỹ lưỡng sao cho lượng khai thác vừa phù hợp cho sử dụng ở hiện tại và vẫn đáp ứng được nhu cầu trong tương lai.
Thứ hai, hoạt động KTKS có tính rủi ro về địa chất. Do khoáng sản nằm trong lòng đất nên khi khai thác sẽ có ảnh hưởng đến khu vực xung quanh. Mức độ ảnh hưởng đến địa chất trong hoạt động KTKS phụ thuộc vào đặc điểm của từng loại khoáng sản và địa hình, đặc điểm địa chất từng khu vực khai thác khác nhau. Thông thường, KTKS quý hiếm hoặc 9 khoáng sản gần khu vực có người dân sinh sống, khu vực trọng điểm phát triển kinh tế xã hội sẽ tiềm ấn nhiều rủi ro địa chất, tác động xấu đến cảnh quan, nguồn nước, không khí, sinh kế người dan.
Ngược lại, hoạt động khai thác những tài nguyên phô biến như khoáng sản làm VLXD mang lại rủi ro thấp hơn. Bên cạnh đó, rủi do về địa chất cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra rủi ro trong đầu tư KTKS do mức độ đầu tư cho thăm dò, khai thác đối với các loại khoáng sản nằm sâu trong lòng đất hoặc có kết cấu phức tạp. Thứ ba, khoáng sản có quan hệ hữu cơ đối với các dạng tài nguyên khác. Cụ thể là, tài nguyên khoáng sản có liên quan mật thiết với với đất, nước, không khí, rừng, biển.
đa phần khoáng sản hình thành trong lòng đất nên khi thăm do hoặc khai thác thường gặp phải các vấn đề liên quan đến sở hữu đất trên mặt khu thực hiện hoạt động khoáng sản. Hoạt động KTKS liên quan đến vấn đề quản lý lưu vự nước và sở hữu và sử dụng tài nguyên nước do khi thực hiện KTKS, các bên thi công có sử dụng đến nguồn nước mặt và nước ngầm trong khu khai thác hoặc bên trong mỏ. Thứ tư, KTKS tác động trực tiếp tới môi trường. Hoạt động khoáng sản đối với các loại tài nguyên khoáng sản dù ở trong lòng dat hay dưới biển luôn tác động tới môi trường và hệ sinh thái.
KTKS làm mắt cảnh quan, ảnh hưởng đến hệ sinh thái do cần sử dụng diện tích lớn cho khu khai thác. Đối với môi trường, đặc biệt trong khai thác than hoặc các loại khoáng sản sử dụng làm VLXD thường thải ra lượng bụi lớn từ hoạt động vận chuyên của các xe tải. Tình trạng ô nhiễm môi trường không chỉ xảy ra trong phạm vi khai thác mà còn ảnh hưởng tới các khu vực xung quanh thậm chí có thể lan tới khu vực có dân cư sinh sống. Ngoài tình trạng ô nhiễm không khí đáng báo động, khai thác các loại khoáng sản như cát, doi ở long sông còn có thé gây sat lở, anh hưởng lớn đến sinh kế của người dân sống trong khu vực khai thác.
Thứ năm, tài nguyên khoáng sản không phân biệt địa giới hành chính. Không giống như các dạng tài nguyên khác, tài nguyên khoáng sản nằm trong lòng đất không phân biệt địa giới hành chính giữa các tỉnh, thậm chí là giữa các quốc gia. Ví dụ, bé than sông Hồng ở Việt Nam có diện tích lên đến 3500km2, thuộc địa giới hành chính 3 tỉnh: Thái Bình, Hưng Yên, Nam Định. Vai trò của tài nguyên khoáng sản trong nên kinh tế quốc dân KTKS là hoạt động đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt là ở những quốc gia đang phát triển.
Ngành KTKS có thể mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, đối với nhiều quốc gia như Chi Lê, Columbia. KTKS còn trở thành một trong những nguôn thu ngân sách chính. Đối với những nước đang phát triển, tài nguyên khoáng sản là một trong những nguồn lực quan trọng hàng đầu dé 10 thực hiện công nghiệp hóa — hiện đại hóa đất nước. La một quốc gia dang phát triển, hoạt động KTKS ở Việt Nam cũng có những nét tương đồng với các quốc gia nêu trên.
Khoáng sản cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu cho các ngành công nghiệp khác trong nền kinh tế, góp phần thúc đây phát triển kinh tế của đất nước. Trong ngành công nghiệp, khoáng sản cung cấp nguyên liệu cho ngành cơ khí, luyện kim, hóa chit. ngoài ra sự đa dạng của các loại khoáng sản còn tạo điều kiện thuận lợi dé phát triển nền công nghiệp quốc gia với co cau ngành đa dạng. Trong nông nghiệp, tài nguyên khoáng san có thê được dùng làm nguyên liệu dé sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu.
nhờ đó năng suất nông nghiệp không ngừng tăng lên. Ngoài ra, nguồn thu ngân sách từ khoáng sản còn có thé được sử dụng dé tiếp tục đầu tư cho các lĩnh vực khác, góp phan phát triển kinh tế cho các quốc gia. Khoáng san sau khi được khai thác và chế biến sẽ trở thành là nguồn cung các mặt hàng xuất khẩu có giá tri cao. Ở Việt Nam, với mục tiêu KTKS gan liền với chế biến, tạo sản phẩm có giá trị kinh tế cao, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đưa ra chiến lược: “Đến năm 2020 chấm dứt các cơ sở chế biến khoáng sản manh mún, công nghệ lạc hậu, hiệu quả thấp, gây ô nhiễm môi trường, hình thành các khu công nghiệp chế biến khoáng sản tập trung với công nghệ tiên tiễn, có quy mô tương xứng với tiềm năng của từng loại khoáng sản”.
Đối với khoáng sản, một khi đã thêm một công đoạn sản xuất thì sản pham đó chắc chăn sẽ có giá trị kinh tế cao hơn sản phâm của giai đoạn trước. Ví dụ trường hợp khai thác đá trắng ở Nghệ An, năm 2020 khối lượng xuất khâu đá hộc trắng thô ở tỉnh này là 1.246 triệu tấn thu được gan 24 triệu USD trong khi đá trắng nếu được xay thành bột min xuất khẩu gần 590 nghìn tan thu lai 47 triệu USD. Theo số liệu này thì xuất khẩu 1 tan đá trắng thô trung bình chỉ được 20 USD trong khi giá đá trắng xay siêu mịn khoảng 90 — 100 USD, tức là chênh lệch khoảng 4 — 5 lần. Ngoài ra, hoạt động khoáng sản góp phần giải quyết một vài vấn đề xã hội như tạo thêm việc làm trong dây chuyền khai thác làm giảm tình trạng thất nghiệp.
Ở miễn núi, khoáng sản đóng vai trò quan trọng trong thúc đây phát triển kinh tế, xã hội. Những vùng có khoáng sản sẽ được quy hoạch, hình thành các khu, cụm công nghiỆp. góp phần thúc đây quá trình đô thị hóa của vùng. Quản lý nhà nước về cấp quyền KTKS 1.Định nghĩa quản lý nhà nước về cấp quyền KTKS Hiện tại chưa có tài liệu nào định nghĩa cụ thể về khái niệm “quyền KTKS” và “quản lý nhà nước về cấp quyền KTKS” tuy nhiên từ những lý thuyết về quản lý có thé hiểu “quan lý Nhà nước về cấp quyền KTKS là việc ban hành các chính sách, tổ chức, điều hành và 11 giám sát của co quan quan ly Nhà nước trong việc thu tiền hoặc tổ chức đấu giá đối với quyền KTKS nhằm đảm bảo các tô chức, cá nhân có hoạt động khai khoáng phải chấp hành đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền cấp quyền và các khoản thu khác có liên quan vào ngân sách nhà nước theo đúng theo các quy định pháp luật hiện hành.
Đặc điểm quan lỷ nhà nước về cấp quyền KTKS Công tác quản lý nhà nước với hoạt động khai khoáng nói chung và câp quyên KTKS nói riêng luôn có sự phân cấp khá rõ ràng thể hiện ở việc xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan quản lý nhà nước trong từng giai đoạn. Ở từng địa phương, với những đặc thù riêng về địa chất sẽ có những cách thức phân cấp, phân quyền theo chức năng và nhiệm vụ của từng cơ quan khác nhau. Phân cấp trong quản lý nhà nước về cấp quyền KTKS là hướng di đúng dan bởi sẽ giúp hạn chế những bắt cập trong quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương nâng cao hiệu quả quản lý. Các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động khai khoáng là đối tượng phải thực hiện xin giấy phép KTKS.
Quá trình dé thực hiện cấp quyền và phối hợp giữa các cơ quan liên quan khá phức tạp. Đề thu tiền cấp quyền các cơ quan nhà nước sẽ sử dụng mệnh lệnh hành chính, các biện pháp cưỡng chế hoặc kết hợp giữa mệnh lệnh hành chính và công tác tuyên truyền. Nguồn thu từ cấp quyền KTKS phải được tổ chức và quản lý theo đúng quy định trong các văn bản pháp luật đã đề ra và không được thực hiện các biện pháp khác.