CHƯƠNG 1 MOT SỐ VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VÀ PHÁP LUAT HIEN HANH VE CĂN CỨ LY HON TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP LY HON 11. Khái niệm chung về ly hôn và căn cứ ly hôn.11 Khái niệm ly hôn, quyên by hon 111. Khái niệm by hon Ly hôn la giải pháp cho cả vợ va chồng cùng các thành viên khác trong gia đình khi mà tinh cảm vợ chẳng thực sự tan vỡ, khi cuộc sống vợ chẳng thường xuyên có những xung đột, mâu thuẫn sâu sắc mà không thé han gắn. được Ly hôn theo quy định tại khoản 14 Điểu 3, Luật HN&GĐ năm 2014 là “Ly hôn là việc chẩm đit quan hệ vo chéng theo bản ám.
quyết dinh có hiệu. lực pháp luật của Tòa én.” Khôi niệm về ly hôn trong Luật HN&GĐ năm. 2014 mang tính chặt hơn khi dé cập nội dung: “Bi án, quyết đùi có hiệu lực của Téa án” qua đỏ phản ánh đúng bản chất của ly hôn nói riêng mang tính giai cấp, đồng thời phản ánh tính quyền lực của Nhà nước. Cơ quan duy nhất có thẩm quyên xét xử là Tòa án, có vai trò quan trọng trong việc góp phân tuân thủ chấp hành các quy định của Luật HN&GB.
"Nếu vợ chẳng mâu thuấn tranh chấp thì Toa ăn xét xử và ra phan ly hôn đưới dạng ban án. Nếu vợ chẳng thuận tình ly hôn, théa thuận được với nhau giải quyết tất cả nội dung thi Tòa án công nhân ly hôn va ra quyết đính dưới hình thức quyết định thuận tinh ly hôn. Giải quyết ly hôn la sự tất yếu đổi với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan. vỡ thi có lợi cho vợ, chẳng hay con cải va các thành viên khác trong gia đình, nhưng đẳng thời cũng gây ra chia rẽ quan hệ gia đính, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sông tương lai của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là con cái.
Do đó, ly hôn chính là sự kiên pháp lýlam chấm đút quan hệ vợ chẳng, theo ban án, quyết có hiểu lực pháp luật của Toa án, dựa trên s tự nguyên. của vợ chồng, là kết quả của hành vi có ý chi của vợ chủng khi thực hiện quyển ly hôn của mình. Kháiniệmquyén ly hon Theo quan đi của chủ nghĩa Mác ~ Lê Nin hôn nhân, trong đó có ly ôn là một hiên tương xế hội mang tính giai cấp sâu sắc, thể hiện ý chỉ của giai cấp thông tị. Với tư tưởng bao vệ quyển gia trưởng của đản ông, cho phép đa thê hay nhiều quy định hả khắc, dưới chế độ phong kiến đặc trưng.
của quan hệ HN&GĐ là những căn cử bat bình đẳng Theo đó, pháp luật và các tục lệ phong kién ỡ Việt Nam có nhiễu quy phạm mang tinh luân lý đặc biệt là các quy phạm về HN&GĐ phan ánh những đặc quyển của người đản. ông còn người phụ nữ phải sống theo quyết "an tông tứ dic”. Chế độ đa thê và những quy định nghiêm khắc vé ly hôn đã bóp méo bản chất của một cuộc hôn nhân chân chính, khiến nó trở thành thứ xiêng xích tréi buộc người phụ nữ trong những nghỉ lễ bắt bình đẳng. Đến thời kỳ tư ban chủ nghĩa các quy đính của pháp luật về HN&GĐ.
đã chiu sự ảnh hưỡng. Các luật gia tư bản cho rắng tự do ly hôn phải được thừa nhộn như một quyển pháp định và đưa ra các quy định nhằm đảm bão quyển tư do ly hôn. Thực chất khi ly hôn ho vẫn bị rằng buộc bởi các quy định ngăn câm của nha làm luật, trên thực tế quyển tự do ly hôn chỉ là quy. định mang tính hình thức.
“debt chế đô tư bản chủ nghĩa quyển ly liên cũng nine tat cả các quyên đân cini khác, không loại trừ quyền nào đều không thể thực hiện một cách đễ đàng, nó iệ thuộc vào nhiều điều kiện bi giới hạn, bt tìm. hẹp và có tính chất hình tiức “E Tê nin (1994), Lê nin Toàn tập tập 4 Nib, Sự tất, tr 355 Quan hệ HN&GĐ trong 2 hội tu sản thường được coi như là một khé tước, một hợp đẳng dân sự ma khi có bat kì hành vi nào vi phạm hợp đẳng ay thì bên đổi tác có thé đặt van dé chấm dứt hôn nhân. Theo đó, ly hôn thường. căn cử vào lỗi của một bên đương sự.
Lỗi 1a yếu tố quyết định cuộc hôn nhân. đó có thé tôn tai được hay không và ai là người có quyền zin ly hôn. Có thể thấy ban chất pháp lý trong pháp luật HN&GĐ thời phong kiến và tư bản. không được xem xét, đánh giá một cách sâu sắc va toàn diện vi bản chất cuộc ‘hén nhân đó có thé chấm đứt néu chỉ cân môt bên co lỗi, ma không cần quan.
tâm tới tình trạng cuộc hôn nhân, hay cuộc sống của gia đình trước đó diễn ra như thê nào, Đối lập với pháp luất phong kiến va từ bản, pháp luật dưới chế độ XHCN đã hiện tinh wu việt trong vẫn để hôn nhân Bối vi, bản chất của ly hôn “chi là việc xác nhận một sự kiện: cuộc lôn nhân này chỉ là một cuộc hôn nhân đã chất, sự tôn tai của nó chi là bề ngoài và giả đối” ? Như vậy, bản. chất của ly hôn là sự tan vỡ của cuộc hôn nhân, là chấm dứt quan hệ vợ chẳng trước pháp luật Nhu vậy, néu ly hôn đã trở thành mong muôn của vợ chẳng vả nếu như cuộc hôn nhân đã thực sự tan vỡ thi việc ghi nhận quyền tự do ly hôn lả hoan toàn chính đăng thể hiện tính chất dân chủ và nhân đạo của pháp luật XHCN bởi vì: “Tự đo ip hôn tuyệt đối không có ngiữa là làm tan rã những mỗi liên Tê gia định mà ngược lai, nó cũng cỗ những mỗi liên hé đó trên những cơ sở đâm citi, những cơ sở duy nhất có thé có và vững chắc trong xã hội văn minji"^ Hon nữa, cũng cẩn phải ghi nhận ring, tự do ly hôn là một quyền cơ ‘ban và bình đẳng giữa vợ va chẳng, bởi đây là quyển gắn liền với nhân thân. của vợ chẳng T Ph, Anghen (1995), Nguồn gốc cũa gia inh, cia chế đồ tr hữu và nhà nước, Nxb. Sw hệt tr126 ˆ Lễ nin (1994), Lê nin Toàn tập tập 4, Nxb, Sw thất, tr 355 + Quyên ly hôn lá một quyển con người.
Điều 36, Hiển pháp của Nước công hoa XHCN Việt Nam năm 2013 ghi nhân: 1 Nam, nữ có đt ÿy hôn Hon nhân theo nguyên tự nguyện tiễn bộ, một vợ một chông vợ ching bình đẳng tôn trongl¿ nhau. Nhà nước bảo hộ HN&GĐ, bảo hộ quyén lợi của người mẹ và trễ em. Như vậy, quyền ly hôn được khẳng định là một trong những quyền con người va được bão dim bằng nha nước. Nội dung về quyển cơn người đã được công đồng quốc tế ngày cảng nhận thức day đủ và toàn diện, được phat triển va cụ thể hóa trong các Tuyên tổ ví Cag we quấn lỐ về quyền cơn người.
Vide dhì niền và: dim bến quyển công dan trong hệ thông pháp luật của mỗi quốc gia chính la thể hiện việc ghi nhân và bao vệ quyển con người. Như vậy quyển iy hôn là một quyền con người được Hién pháp thừa nhận và ght nhận cu thé trong hệ thẳng pháp luật, thể hiện việc cho phép vo và chẳng trong quan hệ HN&GD được phép yên câu Tòa dn giải quyết vụ, việc Ip hôn nhằm chẳm chit hôn nhân gia họ với nha 1. Khái niệm căn cứ ly hon Hôn nhân 1a hiện tương mang tinh 22 hôi, mang tính giai cấp sâu sắc Mỗi giai cấp thông trị, mỗi chế độ xã hội khác nhau déu thông qua nha nước, bằng pháp luật quy đính chế độ hôn nhân phủ hợp với lợi ích cia giai cấp minh, đồng thời xác định những trường hợp nao được phép kết hôn, trong trường hợp não thi được phép ly hôn Nha nước ta quy đính về những điêu kiên đ ly hôn, đấy là căn cứ pháp lý cho phép vợ chẳng có quyển được tự do ly hôn, tuy nhiên ý chí của các bên không, phải la điều kiện quyết định của cuộc hôn nhân mã phải căn cử vào điêu kiên. được quy định trong Luật HN&GĐ, phan án cuộc hôn nhân nay không thể tổn tại được nữa đồng ngiĩa là cuộc hôn nhân đã chết.
Việc quy định những căn. * Quốc hội C013), Biến pháp, Ha Nội cử ly hôn phải phù hợp với bản chất, thực tế của hôn nhân, xác định trong điểu kiện nào thi cuộc hôn nhân đã không tôn tại. Téa án xét xử cho ly hôn chi là công nhận một thực tế cuộc hôn nhân đó đã không còn tổn tại nữa. Vi vậy để xác định căn cứ ly hôn là rat khó.
Toa án không thé áp dung căn cứ cho ly hôn một cách tùy tiện theo nguyên vong của vợ, chẳng. Giải quyết ly hôn. một mat phải bão đâm lợi ích của vợ chẳng, mặt khác phải bao đăm lợi ich của con cải, của các thành viên khác trong gia đính va lợi ich của 228 hội. Do đó Nha nước phải kiểm soát việc ly hôn bằng cách sắc định những điều kiên cẩn và di để cho phép chấm đứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật Giải quyết ly hôn la dua vào thực chất mồi quan hé vợ, chẳng, trên cơ sỡ đánh giá một cách khách quan mà hoàn toàn không có ý chí chủ quan của cán bộ Téa án hay các đương sự Do đó, việc giãi quyết ly hônkhông dựa vào lỗi của vợ chẳng, Trên quan điểm giải quyết: Ly hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiên: Cuộc hôn nhân nay là cuộc hôn nhân đã chết, sự tổn tai của nó chỉ là bể ngoài va lửa đối.
Đương nhiền không phai sự tủy tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tủy tiên của những cá nhân, má chỉ bản chất của sự kiên mới quyết nh được là cuộc hôn nhân đã chết hoặc chưa chế. Bởi vì, như mọi người đều biết, việc xác nhận sự kiện chết tùy thuộc vao thực chất của vấn dé, chứ không phải vao nguyện vong của những bên hữu quan .Nhà lập pháp chỉ có thể xác định những điêu kiện trong đó hôn nhân được phép tan. Nghĩa la trong đó, về thực chất hôn nhân tự nó đã bị phá vé rồi. Việc Tòa án cho phép phá bé hôn nhân chỉ có thé là việc ghi biên bản sư tan rổ bên.
trong của nó Pháp luật cin dự liêu đúng và chính sắc khi quy định vé căn cứ ly hôn. Dựa vào những quy định đó, Tòa án có thể áp dụng đúng đắn các quy định đó vảo từng trường hợp cu thé để giải quyết ly hôn. Diéu nảy vô củng quan.