PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam, từ cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã và đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế-xã hội. Các thay đổi cơ bản trong cơ chế quản lý đã tạo ra những yếu tố có ảnh hưởng mang tính quyết định đến tương lai và sự phát triển của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước. Yêu cầu của nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập với nền kinh tế thế giới đang đặt ra các thách thức đối với các doanh nghiệp trong nước.
Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp không còn cách nào khác hơn là phải thay đổi cách thức quản lý, phát triển quy mô, đa dạng hóa hoạt động. Trong các doanh nghiệp đã xuất hiện quá trình tích tụ và tập trung nguồn lực, giữa các doanh nghiệp đã phát triển các mối quan hệ gắn kết kinh tế và hoạt động theo hướng đa lĩnh vực, đa ngành. Điều đó dẫn đến sự ra đời các tổ chức kinh tế dưới hình thức nhóm công ty trong nền kinh tế Việt Nam. Sự ra đời của các Tổng công ty (TCT) 90, TCT 91 là kết quả của chủ trương tổ chức lại doanh nghiệp Nhà nước và thí điểm thành lập các tập đoàn kinh tế.
Sau hai mươi năm hoạt động, các TCT đã đạt được những kết quả nhất định như góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung vốn; nâng cao vị thế cũng như khả năng cạnh tranh của kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập. Bên cạnh những thành tựu đó, mô hình quản lý TCT hiện nay còn nhiều bất cập như việc hình thành các TCT mang nặng tính lắp ghép cơ học, các doanh nghiệp thành viên (DNTV) trong TCT thông qua mối quan hệ hành chính hơn là kinh tế. Từ đó dẫn đến việc không thực hiện được mục tiêu ban đầu đề ra là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh dựa trên lợi thế về quy mô. Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam (VATM) là một trong những TCT Nhà nước đã tiến hành chuyển đổi sang mô hình công ty mẹ - công ty con để hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý tại Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam.
Tuy nhiên việc chuyển đổi của VATM sang mô hình công ty mẹ - công ty con để hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý tại Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam được thực hiện theo chủ trương vừa làm vừa rút kinh nghiệm nên mô hình quản lý còn nhiều điểm chưa hoàn thiện. 1 Xuất phát từ vấn đề trên tác giả nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện Hệ thống tổ chức quản lý tại Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng mô hình quản lý tại Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam hiện nay, đề xuất định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện Hệ thống tổ chức quản lý cho Tổng công ty trong thời gian tới. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.
Đối tƣợng nghiên cứu Hệ thống tổ chức Quản lý tại Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam 1. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: Cơ sở lý luận về Hệ thống tổ chức quản lý. - Phạm vi thời gian: + Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi cơ cấu tổ chức quản lý của Tổng công ty Quản lý bay Việt nam + Việc nghiên cứu thực trạng mô hình tổ chức quản lý Tổng công ty được tiến hành từ thời gian Tổng công ty chuyển đổi mô hình quản lý cho tới nay và đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống mô hình tổ chức quản lý cho các giai đoạn tiếp theo. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu lý thuyết: Về nghiên cứu lý thuyết của tổ chức quản lý theo tôi được biết đã có một số công trình sau: - GS.TS Đỗ Hoàng Toàn, GS.TS Nguyễn Kim Truy giáo trình “Quản trị học” - Vũ Huy Từ , Đoàn Hữu Xuân (2009), “Quản lý tổ chức và nhân sự.
- Luật Doanh nghiệp 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2015 - “Quản lý bay dân dụng Việt Nam, những chặng đường phát triển” (2006), NXB Chính trị quốc gia. Nghiên cứu thực tiễn: 2 Các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty khác có thể có công trình nghiên cứu này nhưng tại Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam đề tài này chưa có một công trình nghiên cứu nào vì vậy đây là công trình nghiên cứu độc lập. Phƣơng pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp bao gồm: - Phương pháp duy vật biện chứng - Phương pháp duy vật lịch sử. - Phương pháp tiếp cận hệ thống.
- Phương pháp Logic. - Phương pháp so sánh tổng hợp ( Phương pháp phân tích thống kê…). 3 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm, phân loại và đặc điểm về Tổ chức: 1.1 Khái niệm: Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về tổ chức vì vậy có nhiều định nghĩa khác nhau về tổ chức. Các cách hiểu và các cách định nghĩa khác nhau không loại trừ lẫn nhau.
Ngược lại, chúng bổ sung cho nhau tạo thành một hệ hoàn chỉnh, cho phép nhìn nhận và vận dụng linh hoạt, đúng đắn trong từng trường hợp cụ thể trong cuộc sống nói chung và trong công tác quản lý doanh nghiệp nói riêng. Mọi sự vật đều tồn tại trong một hệ thống. Đến lượt nó mỗi sự vật lại là một hệ thống nhỏ hơn, hàm chứa trong lòng nó những sự vật khác nhau với tư cách là những yếu tố cấu thành của hệ thống nhỏ đó. Cùng với sự vô tận của thế giới vô cùng lớn và vô cùng bé, cũng tồn tại sự vô tận của các tổ chức cô cùng lớn và các tổ chức vô cùng bé.
Theo quan điểm hệ thống như vậy, có thể định nghĩa “Tổ chức là cơ cấu tồn tại của sự vật”. Tức là trong mỗi sự vật có bao nhiêu yếu tố (sự vật nhỏ hơn) cấu thành nên nó, các mối quan hệ về lượng, về chất giữa các yếu tố đó với nhau. chính là tổ chức của sự vật đó. Định nghĩa này bao quát cả thế giới tự nhiên và xã hội loài người.
Thái Dương hệ là một tổ chức. Nó liên kết mặt trời và các thiên thể có liên quan trong đó có trái đất. Bản thân trái đất cũng là một tổ chức phù hợp với vị trí của nó trong thái dương hệ. Cũng như vậy trong thế giới sinh vật hay trong cấu tạo của từng nguyên tử vật chất cũng là chính các tổ chức khác nhau.
Thực ra, tổ chức là những hiện tượng phức tạp và đầy nghịch lý, có thể hiểu theo nhiều cách, nhiều ý niệm khác nhau. Gareth Mongan đã nhìn nhận tổ chức từ nhiều góc độ và cho thấy những cách hiểu tổ chức sau đây: - Coi tổ chức như một cỗ máy: Quan niệm này dẫn đến việc tổ chức và quản lý một tổ chức như một cỗ máy bao gồm các chi tiết chồng chất lên nhau, từng chi tiết đóng một vai trò được xác định rõ ràng trong sự vận hành của tổng thể, còn tư chất nhân văn của tổ chức chỉ coi là thứ yếu. Cách tư duy này là cơ sở 4 để tạo ra một tổ chức kiểu quan liêu, có hiệu quả trong một số trường hợp còn trong nhiều trường hợp khác lại thất bại thảm hại. - Coi tổ chức như một cơ thể sống: Quan niệm này tập trung vào tùm hiều các quản lý các nhu cầu của tổ chức và mối liên hệ với môi trường của tổ chức.
Cách nhìn này cho phép hiều được sự ra đời, phát triển lớn lên suy tàn rồi tiêu vong của các tổ chức, cho phép hiểu được sự thích nghi với sự thay đổi môi trường của các tổ chức. - Coi tổ chức như một bộ não: Quan niệm này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử lý thông tin nhấn mạnh cơ chế tự tổ chức. Theo vậy trong các tổ chức không thể thiếu sự linh hoạt mềm dẻo và đổi mới cao. - Coi tổ chức là nền văn hóa bao gồm những tư tưởng, những giá trị những chuẩn mực, những nghi lễ, những tín ngưỡng… nhằm duy trì tổ chức như một thực thể cấu trúc về mặt xã hội.
Quan điểm này cung cấp một phương pháp để hiểu và quản lý tổ chức bằng cách sử dụng những giá trị, các tín ngưỡng và các mô hình ý nghĩa chung, chỉ đạo cho đời sống của tổ chức. - Coi tổ chức là một hệ thống cai trị, vận dụng các nguyên tắc, các chính sách khác nhau để hợp pháp hóa các loại quy chế khác. - Coi tổ chức là các công cụ thống trị. Quan niệm này nhấn mạnh đến đặc điểm về tính khai thác tiềm năng của tổ chức.
Nó cho thấy bản chất của tổ chức là quá trình chi phối, Theo đó một số các nhân áp đặt ý muốn của mình đối với người khác. Từ sự phân tích các khía cạnh trên chúng tôi hiểu Tổ chức có nghĩa là quá trình sắp xếp và bố trí các công việc, giao quyền hạn và phân phối các nguồn lực của tổ chức sao cho chúng đóng góp một cách tích cực và có hiệu quả vào mục tiêu chung của doanh nghiệp.2 Phân loại và đặc điểm của tổ chức: `Như chúng ta đã biết tổ chức có hai nhóm lớn: Tổ chức thuộc các hiện tượng tự nhiên (phi xã hội) và tổ chức mang tính xã hội. Đề tài này sau đây chỉ 5 bàn về tổ chức xã hội cụ thể là tổ chức của hệ thống kinh doanh.Các tổ chức tự nhiên bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên, cố định và sơ cứng. Song các tổ chức xã hội lại có những đặc điểm sau: - Các tổ chức xã hội rất đa dạng.
Có những tổ chức khác nhau để phục vụ mục đích khác nhau: Tổ chức quân đội để chiến đấu, tổ chức một doanh nghiệp để kinh doanh, tổ chức y tế để chữa bệnh, tổ chức tôn giáo để truyền bá một đức tin… Rất nhiều các tổ chức như thế. Cùng một mục đích nhưng các nhà tổ chức khác nhau xây dựng nên các tổ chức khác nhau. Chẳng hạn cùng là một doanh nghiệp thương mại thậm chí là doanh nghiệp thương mại cùng kinh doanh một mặt hàng nhưng các nhà tổ chức khác nhau sẽ xây dựng cho mình những doanh nghiệp thương mại chuyên doanh rất khác nhau. Cùng là lớp học nhưng có lớp gồm 3 tổ học tập, có lớp 6 tổ, cũng có lớp không chia thành tổ học tập, có lớp toàn nam có lớp toàn nữ.