Đặt vấn đề Chương 2: Kênh truyền vô tuyến và hệ thống MIMO Chương 3: Mã QO-STBC và bộ giải mã cải tiến Chương 4: Mô phỏng và đánh giá bộ giải mã QO-STBC cải tiến Chương 5: Kết luận và kiến nghị GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên HVTH: Nguyễn Thị Hà Giang Luận văn thạc sĩ -8- Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử Cải tiến bộ giải mã QO-STBC trong hệ thống MIMO CHƢƠNG 2: KÊNH TRUYỀN VÔ TUYẾN VÀ HỆ THỐNG MIMO Chương này trình bày tổng quan về hệ thống MIMO gồm mô hình và dung lượng, xem xét ảnh hưởng của fading đến chất lượng của kênh truyền vô tuyến MIMO, sau đó là các kỹ thuật phân tập sử dụng trong hệ thống MIMO.1 Hệ thống MIMO 2.1 Các hệ thống đa anten Trước khi hệ thống MIMO ra đời, các hệ thống vô tuyến trước đây sử dụng mô hình kênh truyền SISO, SIMO và MISO [2], [6]: - Single Input Single Output (SISO): chỉ sử dụng một anten ở phía phát và một anten ở phía thu. - Single Input Multiple Output (SIMO): chỉ sử dụng một anten ở phía phát và nhiều hơn một anten ở phía phát. - Multiple Input Single Output (MISO): chỉ sử dụng một anten ở phía thu và nhiều hơn một anten ở phía phát. - MIMO-MU (Multiuser: đa người dùng): hệ thống gồm một trạm gốc với nhiều anten thu/phát tương tác với nhiều người sử dụng, với một hoặc nhiều anten.TS Phạm Hồng Liên HVTH: Nguyễn Thị Hà Giang Luận văn thạc sĩ -9- Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử Cải tiến bộ giải mã QO-STBC trong hệ thống MIMO Hình 2.1 Các cấu hình hệ thống vô tuyến Kỹ thuật MIMO là kỹ thuật sử dụng nhiều anten phát và nhiều anten thu để truyền và nhận dữ liệu.2 Ƣu và nhƣợc điểm của hệ thống MIMO Ƣu điểm: - Về dung lượng: do sử dụng nhiều anten nhiều anten phát và thu nên có thể truyền nhiều đường dữ liệu song song, nên dung lượng tăng theo số lượng anten có trong hệ thống.
- Về chất lượng: tăng độ phân tập của hệ thống trong kênh truyền Fading nên có thể giảm được xác suất lỗi (BER hoặc SER). Ngoài ra, với kỹ thuật tạo búp, tín hiệu được truyền theo hướng mong muốn, công suất phát chỉ tập trung vào hướng truyền. Do đó giảm công suất phát của các thiết bị. Nhƣợc điểm: Do hệ thống MIMO sử dụng nhiều anten phát và thu nên: GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên HVTH: Nguyễn Thị Hà Giang Luận văn thạc sĩ - 10 - Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử Cải tiến bộ giải mã QO-STBC trong hệ thống MIMO - Nhiều anten nên giá thành phần cứng của hệ thống MIMO phải lớn hơn so với hệ thống SISO.
- Độ phức tạp lớn và giải thuật xử lý tín hiệu phức tạp hơn. - Tăng thể tích của các thiết bị (vì số lượng anten vừa nhiều vừa phải đảm bảo khoảng cách giữa các anten để các kênh không tương quan) trong khi xu hướng thiết bị càng ngày càng nhỏ.3 Mô hình hệ thống MIMO Xét một hệ thống thông tin không dây MIMO có Nt anten phát và Nr anten thu. Gọi T là chiều dài khối của kênh pha-đinh phẳng Rayleigh. Quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của hệ thống MIMO như sau: 𝑅 = 𝑋𝐻 + 𝑁 (2.1) Trong đó: - R: là ma trận tín hiệu thu phức T x Nr.
- X: là ma trận tín hiệu phát phức T x Nt. - H: là ma trận kênh truyền vô tuyến MIMO phức Nt x Nr. - N: là ma trận tạp âm Gaussian trắng phức T x Nr. Mỗi khối X chứa L ký hiệu thông tin si được điều chế từ chòm sao kích thước M.2 Mô hình hệ thống MIMO GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên HVTH: Nguyễn Thị Hà Giang Luận văn thạc sĩ - 11 - Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử Cải tiến bộ giải mã QO-STBC trong hệ thống MIMO 2.4 Dung lƣợng kênh MIMO Dung lượng kênh truyền được định nghĩa là tốc độ truyền dẫn tối đa với một xác suất lỗi tương đối nhỏ nào đó [1].
Đối với kênh truyền không sử dụng phân tập, có độ lợi h, chịu ảnh hưởng của tạp âm cộng trắng Gauss thì dung lượng kênh truyền có thể tính được theo định lý Shannon như sau: CSISO = W log 2 1 + ρ h 2 [bit/s] (2.2) trong đó W là băng tần của kênh truyền tính bằng Hz và ρ h 2 chính là tỉ số tín hiệu trên tạp âm (SNR) tại đầu vào máy thu. Từ công thức (2.2) chúng ta thấy rằng với một kênh vô tuyến có độ rộng băng tần nhất định không sử dụng phân tập không gian (SISO) thì dung lượng kênh truyền tỉ lệ với SNR ở đầu vào máy thu theo luật logarith. Vì vậy, muốn tăng dung lượng kênh truyền thì chỉ có cách tăng công suất phát. Tuy nhiên, do mối quan hệ logarith nên dung lượng kênh truyền SISO tăng rất chậm.
MIMO được đề xuất để khắc phục hạn chế về dung lượng kênh truyền của các hệ thống SISO. Với Nt anten phát và Nr anten thu, trong môi trường pha-đinh Rayleigh giàu tán xạ và biến đổi chậm, kênh MIMO Nt × Nr như ở Hình 2.2, cho phép đạt được dung lượng kênh truyền [1], [6]: 𝑁𝑟 𝑊 log 2 (1 + 𝜌) 𝑛ế𝑢 𝑁𝑟 < 𝑁𝑡 𝐶𝑀𝐼𝑀𝑂 = 𝑁𝑟 (2.3) 𝑁𝑡 𝑊 log 2 (1 + 𝜌 ) 𝑛ế𝑢 𝑁𝑟 ≥ 𝑁𝑡 𝑁𝑡 Xem xét công thức (2.3) chúng ta thấy rằng dung lượng của kênh MIMO tăng tuyến tính theo số anten phát hoặc thu và có thể đạt đến r = min(Nt, Nr) lần dung lượng của một kênh truyền SISO.3 biễu diễn sự tăng tuyến tính của dung lượng kênh MIMO theo số anten thu phát.TS Phạm Hồng Liên HVTH: Nguyễn Thị Hà Giang Luận văn thạc sĩ - 12 - Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử Cải tiến bộ giải mã QO-STBC trong hệ thống MIMO Hình 2.3 Biển diễn dung lượng kênh MIMO theo r = min(Nt, Nr) 2.2 Ảnh hƣởng của pha-đinh lên kênh truyền vô tuyến MIMO Trong hệ thống thông tin vô tuyến, do các hiện tượng như phản xạ, tán xạ, khúc xạ,…tín hiệu truyền từ bộ phát tới bộ thu sẽ bị tách thành nhiều thành phần và mỗi thành phần sẽ có những đường đi khác nhau. Sự tương tác giữa các sóng này sẽ gây nên fading đa đường, và cường độ sóng truyền sẽ giảm khi khoảng cách giữa máy phát và máy thu tăng lên. Hiện tượng fading trong một hệ thống di động có thể được phân thành hai loại: fading tầm rộng (large scale fading) hay còn gọi là fading chậm (slow fading) và fading tầm hẹp (small scale fading) hay còn gọi là fading nhanh (fast fading).
Fading chậm là sự suy hao công suất hay suy hao đường truyền. Hiện tượng này chịu ảnh hưởng bởi sự cao lên của địa hình (đồi núi, rừng, các khu nhà cao) giữa máy phát và máy thu. Hay nói cách khác, phía thu bị che khuất bởi các vật cản cao. Fading nhanh là sự thay đổi đột ngột (thay đổi nhanh) về biên độ và pha của tín hiệu khi có sự thay đổi nhỏ về khoảng cách giữa bộ thu và bộ phát.
Fading nhanh được gọi là Rayleigh fading nếu số lượng đường phản xạ lớn, và không tồn tại đường GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên HVTH: Nguyễn Thị Hà Giang Luận văn thạc sĩ - 13 - Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử Cải tiến bộ giải mã QO-STBC trong hệ thống MIMO truyền thẳng, khi đó đường bao của tín hiệu nhận được được biểu diễn bằng hàm phân bố Rayleigh. Khi tồn tại một tín hiệu vượt trội không bị fading, đường bao của fading nhanh được biểu diễn bởi hàm phân bố Rician. Trong những kênh vô tuyến di động, phân bố Rayleigh thường được dùng để mô tả bản chất thay đổi theo thời gian của đường bao tín hiệu fading phẳng thu được hoặc đường bao của một thành phần đa đường riêng lẻ. Trong kênh truyền Rayleigh Fading, biên độ r là biến ngẫu nhiên của phân bố Rayleigh với hàm mật độ xác suất: 0 (r 0) p(a) r r2 (2.
σ2 là công suất trung bình.4 Hàm mật độ xác suất của phân bố Rayleigh GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên HVTH: Nguyễn Thị Hà Giang Luận văn thạc sĩ - 14 - Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử Cải tiến bộ giải mã QO-STBC trong hệ thống MIMO 2.3 Các kỹ thuật phân tập sử dụng trong hệ thống MIMO Trong thông tin đa đường không dây, kỹ thuật phân tập được sử dụng rộng rãi để giảm ảnh hưởng của fading và tăng độ tin cậy truyền dẫn mà không cần tăng công suất phát hoặc thay đổi băng thông. Hầu hết các hệ thống không dây đều áp dụng các kỹ thuật phân tập. Theo các miền người ta chia thành các kỹ thuật phân tập sau: phân tập thời gian, phân tập tần số và phân tập không gian [7].1 Phân tập thời gian Phân tập thời gian được thực hiện bằng cách phát nhiều bản tin giống nhau tại các khe thời gian khác nhau, do đó bộ thu sẽ thu được các tín hiệu không tương quan về fading. Khoảng thời gian phân cách giữa các lần phát là phải lớn hơn thời gian kết hợp (coherence time) của kênh truyền để đảm bảo các fading xảy ra với tín hiệu trong khoảng thời gian này sẽ không tương quan với nhau.
Trong các hệ thống thông tin di động, việc phân tập thời gian được thực hiện bằng cách kết hợp kỹ thuật cài xen (Interleaving) và mã hoá sửa lỗi. Interleaving sẽ tạo ra khoảng thời gian phân cách giữa các bản sao của tín hiệu truyền, do đó sẽ tạo ra các tín hiệu độc lập về fading tại bộ giải mã. Do Interleaving sẽ gây nên độ trễ khi giải mã nên kỹ thuật này chỉ phù hợp với các môi trường có fading nhanh khi khoảng thời gian kết hợp (coherence time) của kênh truyền nhỏ. Với các kênh truyền có fading chậm, việc sử dụng các bộ Interleaver có kích thước lớn sẽ gây ra hiện tượng trễ rất đáng kể, không chấp nhận được cho các ứng dụng nhạy với độ trễ như truyền thoại.
Một nhược điểm của kỹ thuật phân tập thời gian là sự sử dụng băng thông không hiệu quả do sự dư thừa nhiều dữ liệu trong miền thời gian.2 Phân tập không gian Kỹ thuật phân tập không gian hay còn gọi là phân tập anten (Antenna Diversity) được sử dụng phổ biến trong truyền dẫn viba. Kỹ thuật này được thực hiện bằng cách dùng nhiều anten hoặc dãy anten sắp xếp theo một cách hợp lý để phát/thu tín hiệu. Các anten được phân cách nhau một khoảng cách vật lý để đảm bảo các tín GVHD: PGS.TS Phạm Hồng Liên HVTH: Nguyễn Thị Hà Giang Luận văn thạc sĩ - 15 - Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử Cải tiến bộ giải mã QO-STBC trong hệ thống MIMO hiệu không tương quan nhau. Khoảng phân cách yêu cầu sẽ thay đổi theo độ cao anten, môi trường truyền sóng và tần số thu phát.