phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt,luận văn đƣợc bố cục thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán KBNN để thực hiện chức năng Tổng KTNN. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng tổ chức bộ máy kế toán nghiệp vụ của hệ thống Kho bạc Nhà nƣớctại Việt Nam. Chƣơng 4: Một số giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán Kho bạc Nhà nƣớc để thực hiện Tổng kế toán Nhà nƣớc.
5 z Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN KHO BẠC NHÀ NƢỚC ĐỂ THỰC HIỆN CHỨC NĂNG TỔNG KẾ TOÁN NHÀ NƢỚC 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Đặc điểm chung của công tác kế toán tại Kho bạc Nhà nước Hiện nay, Kho bạc Nhà nƣớc đang thực hiện chức năng quản lý quỹ NSNN và các quỹ tài chính khác, tổ chức hệ thống thông tin theo ngành dọc từ Trung ƣơng đến địa phƣơng (KBNN Trung ƣơng, KBNN tỉnh, KBNN huyện), thực hiện nhiệm vụ quan trọng trong việc thu thập, cung cấp thông tin kịp thời về tình hình thu, chi quỹ NSNN, tình hình vay nợ và trả nợ vay của Chính phủ (trong nƣớc và ngoài nƣớc) và các quỹ TCNN. Trên thực tế công tác kế toán tại KBNN trong những năm qua, có thể đƣợc đánh giá nhƣ sau: - Đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc quản lý an toàn tiền và tài sản của Nhà nƣớc, thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm soát chi NSNN theo đúng quy định và trách nhiệm đƣợc giao. - Tổ chức hạch toán và cung cấp kịp thời các thông tin về NSNN (ngân sách trung ƣơng và ngân sách địa phƣơng) cho các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý từ trung ƣơng đến địa phƣơng, phục vụ cho việc quản lý, điều hành ngân sách các cấp đƣợc hiệu quả.
- Quá trình hoàn thiện công tác kế toán tại KBNN trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin đã góp phần vào công cuộc cải cách hành chính trong lĩnh vực NSNN theo hƣớng tập trung đầu mối, đơn giản quy trình, thủ tục, xác định rõ trách nhiệm và tăng cƣờng tính chủ động cho các đơn vị. Qua đó, cơ quan tài chính và các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền đƣợc cung cấp thông tin thu, chi NSNN theo yêu cầu quản lý. Cụ thể, các thông tin này đƣợc xây dựng theo nội dung kinh tế, theo lĩnh vực chi, lĩnh 6 z vực hoạt động để phục vụ cho việc điều hành và quản lý thu, chi NSNN. Ngoài ra, các cơ quan, đơn vị có thể đƣợc cung cấp thông tin về nghĩa vụ nợ của Nhà nƣớc, bao gồm: vay nợ, thu, chi viện trợ không hoàn lại, các quỹ TCNN khác.
Yêu cầu cung cấp thông tin tài chính nhà nước (1) Tùy theo chức năng, nhiệm vụ cụ thể, các cơ quan, đơn vị có nhu cầu thông tin báo cáo khác nhau từ nguồn thông tin tài chính nhà nƣớc. Các đơn vị sử dụng thông tin tài chính nhà nƣớc bao gồm: - Nhóm cơ quan quyền lực: Quốc hội; Hội đồng nhân dân các cấp tỉnh, huyện, xã; - Nhóm cơ quan chấp hành: Chính phủ; Ủy ban nhân dân các cấp tỉnh, huyện; - Nhóm cơ quan quản lý tổng hợp: Các Bộ, ngành quản lý; Các đơn vị khác; - Nhóm đơn vị dự toán NSNN và các quỹ tài chính của Nhà nước: Các Bộ ngành; Các quỹ tài chính; - Các đơn vị, tổ chức khác: Công chúng, tổ chức quốc tế (các thông tin đƣợc phép công khai theo quy định của pháp luật). (2) Các cơ quan quản lý, các cấp có thẩm quyền hiện nay đang đƣợc cung cấp các thông tin về tình hình lập, phân bổ dự toán; chấp hành ngân sách và quyết toán ngân sách hàng năm trên phạm vi toàn quốc hoặc trên từng địa bàn. Các thông tin này phản ánh và đánh giá tình hình thực hiện NSNN theo từng năm ngân sách.
Từ đó, đánh giá hiệu quả chi tiêu công, phân tích khả năng tài chính của đất nƣớc, của từng địa phƣơng, đánh giá hiệu quả của các cơ chế, chính sách, chủ trƣơng, đƣờng lối. 7 z Nội dung thông tin về tài chính nhà nƣớc cần đƣợc cung cấp cho các cơ quan, đơn vị, bao gồm: - Tình hình tài sản thuộc sở hữu của Nhà nƣớc đƣợc quản lý tại các đơn vị. - Kết quả hoạt động (thƣờng xuyên, đầu tƣ, tài chính) của Chính phủ, của cơ quan đơn vị của Nhà nƣớc từ trung ƣơng đến địa phƣơng. - Nguồn lực tài chính và nghĩa vụ hiện hữu và tiềm năng của Nhà nƣớc.
- Các thông tin thuyết minh và tình hình chi tiêu NSNN của Chính phủ, các cấp chính quyền địa phƣơng, hiệu quả sử dụng tài sản thuộc sở hữu nhà nƣớc. Sự cần thiết triển khai Tổng Kế toán nhà nước Để thực hiện yêu cầu cung cấp đầy đủ thông tin tài chính nhà nƣớc, công tác kế toán tại KBNN còn một số đặc điểm sau đây: (1) Chƣa tổ chức thực hiện lập và trình bày báo cáo tài chính nhà nƣớc của Chính phủ trên phạm vi toàn quốc, báo cáo của chính quyền địa phƣơng trên từng địa bàn. Cụ thể: + Các thông tin về kế toán NSNN, nợ của Nhà nƣớc, thuế xuất nhập khẩu, thuế nội địa, tình hình quản lý và sử dụng tài sản nhà nƣớc, tình hình tiếp nhận và sử dụng kinh phí NSNN của các đơn vị; tình hình hình thành và sử dụng các quỹ tài chính… đã đƣợc phản ánh ở các đơn vị. Tuy nhiên các thông tin này chƣa đƣợc tổng hợp chung thành báo cáo tài chính nhà nƣớc của Chính phủ hoặc của chính quyền địa phƣơng.
Vì vậy, việc tổ chức tổng hợp thông tin tài chính nhà nƣớc chƣa đƣợc thực hiện đồng bộ, nhất quán về phạm vi, nội dung và phƣơng pháp, chƣa mang lại hiệu quả cao nhất cho việc sử dụng và phân tích số liệu phục vụ công tác quản lý vĩ mô. + Chƣa hình thành hệ thống cơ chế, chế độ về KTNN thống nhất; phạm vi, đối tƣợng kế toán trong KTNN chƣa đầy đủ; các phƣơng pháp và 8 z nguyên tắc kế toán chƣa tuân thủ theo thông lệ quốc tế, vì vậy, luôn có sự thay đổi, không ổn định giữa các thời kỳ. (2) Chƣa tổ chức một bộ máy kế toán nhà nƣớc chuyên trách ở cấp Chính phủ, từng cấp chính quyền địa phƣơng để tiếp nhận, phân loại và tổng hợp các thông tin tài chính nhà nƣớc, cung cấp cho các cơ quan, đơn vị có liên quan để phân tích và sử dụng trong quản lý điều hành và tổ chức hoạt động kinh tế. (3) Mặc dù đã triển khai thành công hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc, tuy nhiên về góc độ tài chính nhà nƣớc, chƣa triển khai và vận hành hệ thống thông tin tài chính Chính phủ tập trung để tổng hợp, cung cấp và phân tích thông tin kế toán tài chính một cách đầy đủ, phù hợp và có hiệu quả về tổng tài sản và nguồn lực nhà nƣớc, tình hình hoạt động tài chính của Chính phủ và các chính quyền địa phƣơng.
Từ thực tế nêu trên, Quyết định số 108/2009/QĐ-TTg ngày 26/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước là thực hiện chức năng Tổng KTNN, nhằm xây dựng và vận hành hệ thống thông tin kế toán tài chính trong lĩnh vực KTNN, lập báo cáo tài chính của Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương. Cơ sở pháp lý về nghiên cứu, xây dựng và triển khai Tổng Kế toán nhà nước Cho đến thời điểm hiện nay, chƣa có quy định cụ thể về lập báo cáo tài chính Tổng KTNN. Cơ sở pháp lý để nghiên cứu, xây dựng và triển khai Tổng kế toán nhà nƣớc, gồm: a) Văn bản do Quốc hội phê duyệt - Luật Ngân sách nhà nƣớc số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 (hiện nay đang đƣợc nghiên cứu để bổ sung, sửa đổi); 9 z - Luật Kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17/6/2003 (hiện nay đang đƣợc nghiên cứu để bổ sung, sửa đổi). b) Văn bản do Chính phủ quy định - Nghị định số 215/2008/NĐ-CP ngày 23/12/2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính; - Nghị định số 128/2004/NĐ-CP ngày 31/05/2004 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều trong lĩnh vực kế toán Nhà nƣớc; - Quyết định số 108/2009/QĐ-TTg ngày 13/11/2009 của Thủ tƣớng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nƣớc trực thuộc Bộ Tài chính; - Quyết định số 138/2007/QĐ-TTg ngày 21/8/2007 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lƣợc phát triển Kho bạc Nhà nƣớc đến năm 2020; - Quyết định số 480/QĐ-TTg ngày 18/03/2013 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lƣợc kế toán - kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
c) Văn bản do Bộ Tài chính quy định Quyết định số 2261/QĐ-BTC ngày 10/9/2013 của Bộ trƣởng Bộ Tài chính về việc phê duyệt kế hoạch triển khai “Chiến lƣợc kế toán - kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Những vấn đề chung về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 1. Khái niệm Cơ cấu tổ chức quản lý là một hệ thống bao gồm các bộ phận (đơn vị và cá nhân) khác nhau có mối liên hệ với nhau, đƣợc chuyên môn hóa và có những trách nhiệm, quyền hạn nhất định, đƣợc bố trí theo những cấp, những 10 z khâu khác nhau, nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý và đạt mục tiêu đã định của hệ thống.2 Yêu cầu cơ bản đối với cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Khi xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý cần đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau: - Đảm bảo tính tối ƣu. Có nghĩa là giữa các khâu quản lý và các cấp quản lý cần thiết lập những mối quan hệ hợp lý.
Số lƣợng cấp quản lý nên ít nhất, đảm bảo cho các hoạt động của hệ thống đƣợc tốt nhất. Cơ cấu quản lý cần mang tính năng động cao, luôn đi sát và phục vụ mục đích đề ra của hệ thống. - Đảm bảo tính linh hoạt. Có nghĩa là cơ cấu tổ chức quản lý phải có khả năng thích ứng linh hoạt với bất kỳ tình huống nào xảy ra trong hệ thống cũng nhƣ ngoài môi trƣờng.
Quá trình hoạt động của hệ thống thƣờng có những biến đổi từ nội bộ cũng nhƣ từ bên ngoài tác động vào, nên cơ cấu tổ chức cần vận động sao cho phù hợp với những biến động đó. - Đảm bảo tính tin cậy.