CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM 1. Khái niệm: Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì cấp tín dụng được định nghĩa là thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Theo quan điểm truyền thống, tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền cam kết hoàn trả cả gốc và lãi theo các điều kiện đã thoả thụân trong hợp đồng đã ký kết.
Phân loại tín dụng ngân hàng - Căn cứ vào thời hạn cho vay: + Cho vay ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng, chủ yếu đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn lưu động cho khách hàng. + Cho vay trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng, đáp ứng nhu cầu đầu tư tài sản cố định. + Cho vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng, chủ yếu đầu tư các công trình lớn có thời hạn thu hồi vốn đầu tư dài. - Căn cứ vào hình thức đảm bảo tiền vay: + Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: khách hàng muốn được vay vốn phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ 3.
+ Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản: Ngân hàng cho vay chỉ dựa Luan van 7 trên uy tín của khách hàng, thường là những khách hàng truyền thống, có quan hệ tín dụng tốt trong quá khứ, không có nợ quá hạn, nợ xấu. - Căn cứ vào phương thức cho vay: + Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và TCTD thực hiện ký kết hợp đồng tín dụng. + Cho vay theo hạn mức tín dụng: cho vay theo một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. + Cho vay theo dự án đầu tư: TCTD cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
+ Cho vay hợp vốn: Một nhóm TCTD cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng. Trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các TCTD khác. + Cho vay trả góp: Khi vay vốn, TCTD và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. + Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định.
TCTD và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng. + Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: TCTD chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của TCTD. + Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà TCTD thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phục vụ nhu cầu thanh toán trong ngắn hạn. Luan van 8 - Căn cứ vào mục đich sử dụng vốn vay: + Tín dụng sản xuất kinh doanh: Cho vay để đầu tư vào mục đích sản xuất kinh doanh của khách hàng.
+ Tín dụng tiêu dùng, phục vụ đời sống: Cho vay vốn để sử dụng vào các mục đích tiêu dùng phục vụ đời sống. Rủi ro tín dụng của NHTM a. Khái niệm: Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn định, gây ra hậu quả xấu. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đầy đủ và đúng hạn nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo thoả thuận.
Tại quyết định 493/2005/QĐ - NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước Việt nam đã nêu: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Phân loại rủi ro tín dụng: Trong hoạt động tín dụng bên cạnh mang lại lợi nhuận còn có rủi ro tín dụng song hành, do đó việc phân loại RRTD để có phương pháp và biện pháp hạn chế rủi ro là yếu tố cần thiết. Bao gồm có rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. - Rủi ro giao dịch: Nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. * Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để quyết định cho vay. Luan van 9 * Rủi ro bảo đảm: Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo. * Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lí khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lí các khoản cho vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lí danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại: Rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk). * Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng. * Rủi ro tập trung: Là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, hay các doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lí nhất định, hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra sẽ gây ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi phải trích lập dự phòng, không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn gốc và lãi vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng: - Nguyên nhân khách quan: Là những tác động ngoài ý chí của khách hàng và ngân hàng như thiên tai, hoả hoạn, do sự thay đổi các chính sách Luan van 10 quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch vùng, do hành lang pháp lý chưa phù hợp, do biến động thị trường trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hóa thay đổi, tỷ giá biến động tăng …khiến doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn tài chính không thể khắc phục được. Từ đó dù cho khách hàng có thiện chí nhưng vẫn không thể trả được nợ cho ngân hàng.
- Nguyên nhân từ phía khách hàng: + Đối với các doanh nghiệp, khả năng tự chủ về tài chính kém, năng lực điều hành yếu, thiếu kinh nghiệm, hệ thống quản trị hoạt động kinh doanh không hiệu quả, dẫn đến việc sử dụng vốn vay không hiệu quả hoặc thất thoát, ảnh hưởng khả năng trả nợ. + Lợi dụng điểm yếu của NHTM, khách hàng vay tìm cách lừa đảo để được vay vốn, lập phương án sản xuất kinh doanh giả, giấy tờ thế chấp, cầm cố tài sản giả mạo, hoặc đi vay ở nhiều ngân hàng với cùng bộ hồ sơ. + Sử dụng vốn sai mục đích so với hợp đồng tín dụng dẫn đến không có nguồn trả nợ, thiếu thiện chí trong việc trả nợ vay ngân hàng. - Nguyên nhân từ phía ngân hàng: + Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một thời điểm để tăng trưởng tín dụng theo chỉ tiêu kế hoạch, rồi thắt chặt tín dụng.
Chưa có quy trình quản trị rủi ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để tính toán điều kiện vay và khả năng trả nợ. Đối với cho vay doanh nghiệp nhỏ và cá nhân, quyết định cho vay của ngân hàng chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, chưa áp dụng công cụ chấm điểm tín dụng. + Cán bộ tín dụng không tuân thủ chính sách tín dụng, không chấp hành đúng quy trình cho vay. Cán bộ tín dụng yếu kém về trình độ nghiệp vụ chuyên môn; Cán bộ tín dụng vi phạm đạo đức kinh doanh.
Luan van 11 + Năng lực dự báo, phân tích và thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lí khoản vay có vấn đề của cán bộ tín dụng còn yếu, nhất là các ngành đòi hỏi hiểu biết chuyên môn cao dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay. Công tác kiểm tra, kiểm soát sau cho vay thiếu chặt chẽ, sơ sài dẫn đến khách hàng sử dụng vốn sai mục đích nhưng ngân hàng chưa có biện pháp ngăn chặn kịp thời. + Thiếu thông tin về khách hàng, thông tin sai lệch, thiếu hợp tác giữa các ngân hàng trong trao đổi thông tin về khách hàng dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng. + Việc mở rộng hoạt động tín dụng quá mức thường tạo điều kiện cho rủi ro tín dụng của ngân hàng tăng lên.