CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TRONG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CỦA NHTM 1. Hoạt động cho vay của NHTM Hoạt động cho vay là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Theo quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (KH), quyết định số 127/2005/QĐ- NHNN, và thông tư 33/2011/TT-NHNN sửa đổi bổ sung quyết định 1627 thì cho vay được hiểu là một hình thức cấp tín dụng (TD), theo đó tổ chức tín dụng (TCTD) giao cho KH sử dụng một khoản tiền vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Cho vay ngắn hạn đối với DN của NHTM a. Khái niệm doanh nghiệp Có nhiều định nghĩa khác nhau về DN. - Theo quan điểm luật pháp: DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh (Luật DN 2005). - Theo quan điểm mục tiêu lợi nhuận thì M.Francois – một nhà kinh tế người Pháp đã định nghĩa: “DN là một tổ chức sản xuất thông qua đó, trong khuôn khổ một số tài sản nhất định người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất Luan van 8 khác nhau nhằm tạo ra những sản phẩm dịch vụ để bán trên thị trường nhằm thu về khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm ”.
- Nếu xét theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được " (trích từ sách " kinh tế doanh nghiệp của D.A Caillat - Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992 ). Từ cách nhìn nhận như trên có thể phát biểu về định nghĩa doanh nghiệp như sau: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội. Căn cứ vào Luật DN 2005 thì hình thức pháp lý của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên), công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.
Khái niệm cho vay ngắn hạn đối với DN của NHTM Cho vay ngắn hạn là loại hình cho vay có thời hạn dưới một năm, nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động của DN. Do đó, cho vay ngắn hạn của NHTM ngày càng trở thành một hình thức TD quan trọng không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường. Nguyên tắc cho vay ngắn hạn đối với DN của NHTM Cho vay ngắn hạn nói riêng cần đảm bảo 3 nguyên tắc cơ bản sau: - Nguyên tắc 1: Vốn vay phải có bảo đảm tiền vay. Luan van 9 Vì sao cần phải đảm bảo nguyên tắc này: + Nguyên tắc này được đưa ra nhằm đảm bảo quan hệ cân đối tiền hàng, tôn trọng qui luật lưu thông tiền tệ.
Có như vậy mới tạo điều kiện cho sự vận động của đồng vốn gắn liền với quá trình vận động của nền kinh tế, tránh được lạm phát , mất ổn định trong nền kinh tế. + Giảm bớt rủi ro cho ngân hàng. Khi khách hàng không có khả năng trả nợ, bảo đảm tiền vay sẽ là nguồn thu hồi nợ thứ hai của ngân hàng - Nguyên tắc 2:Vốn vay phải có mục đích sử dụng hợp pháp. Mục đích của tín dụng ngân hàng là thông qua hoạt động cho vay để thúc đẩy đời sống kinh tế xã hội phát triển.
Ngân hàng không cho vay để thực hiện những hoạt động kinh doanh trái phép, trái chức năng. Do đó, để ngân hàng có thể tập trung, kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng thì khách hàng phải nêu rõ mục đích sử dụng vốn vay trong đơn xin vay, kkhees ước nợ, hợp đồng tín dụng và buộc phải sử dụng vốn vay đúng mục đích đó. Ngân hàng có quyền đình chỉ và thu hồi nợ nếu phát hiện bên vay không tôn trọng nguyên tắc cho vay. Mặt khác, việc kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng giúp cho ngân hàng giảm thiểu được rủi ro cho vay.
- Nguyên tắc 3: Vốn cho vay phải được hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, do đó vốn cho vay phải quay về ngân hàng với giá trị lớn hơn. Người đi vay phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi thì ngân hàng mới đảm bảo khả năng thanh toán và hoạt động có lãi. Đặc diểm cho vay ngắn hạn đối với DN - Hợp đồng cho vay ngắn hạn có thời hạn không quá 1 năm.
- Cho vay ngắn hạn nhằm bổ sung vốn đầu tư vào tài sản lưu động. - Lãi suất cho vay ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất cho vay trung dài hạn. - Đối tượng cho vay bao gồm: Giá trị tiền tệ trong thanh toán bao gồm Luan van 10 quỹ tiền mặt chuẩn bị thu mua vật tư hàng hóa, tiền gửi thư TD… để thu mua vật tư hàng hóa và các chứng từ giao hàng đang trong thanh toán. Giá trị vật tư hàng hóa là các vật tư, nguyên vật liệu chuẩn bị cho sản xuất và thành phẩm hàng hóa sẵn sàng cho tiêu thụ; Chi phí sản xuất và lưu thông để tạo ra thành phẩm.
- Cho vay ngắn hạn gắn liền với chu kỳ ngân quỹ và nhu cầu vốn thời vụ của DN. Các khoản vay ngắn hạn phụ thuộc vào nhiều quá trình luân chuyển vốn lưu động của DN nên thời hạn thu hồi vốn nhanh e. Phân loại cho vay ngắn hạn đối với DN của NHTM Căn cứ vào đối tượng cho vay, cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp bao gồm: - Cho vay mua hàng dự trữ: Các khoản cho vay này tận dụng chu kỳ kinh doanh tiền-hàng-tiền của doanh nghiệp. Chủ yếu để tài trợ mua hàng tồn kho như nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm.
Kỳ hạn của một khoản vay thường bắt đầu từ khi DN mua hàng và kết thúc khi DN bán được hàng, thu tiền về và trả nợ cho NH. - Cho vay vốn lưu động: Nhằm đáp ứng toàn bộ vốn lưu động thiếu hụt của DN, được sử dụng để đáp ứng mức sản xuất và nhu cầu tín dụng trong thời kỳ cao điểm của chu kỳ kinh doanh. Thời hạn cho vay tùy theo đặc điểm về chu kỳ kinh doanh và khả năng tài chính của từng loại khách hàng, có thể vài ngày đến một năm. - Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng: Cho vay ngắn hạn đối với DN xây lắp để đáp ứng nhu cầu vốn trong quá trình thi công các công trình xây dựng.
Loại cho vay này khá chắc chắn nhưng vẫn thường xảy ra một số rủi ro là ý thức và khả năng thanh toán của chủ đầu tư và khả năng thực hiện hợp đồng của nhà thầu. - Cho vay kinh doanh chứng khoán: Đây là hình thức tài trợ vốn ngắn Luan van 11 hạn để mua chứng khoán mới và duy trì danh mục đầu tư chứng khoán hiện có cho tới khi các chứng khoán này được bán hoặc đến hạn thanh toán. Thời hạn cho vay từ khi mua chứng khoán mới đến khi bán chứng khoán đó cho KH. Loại cho vay này có thời hạn rất ngắn và được đảm bảo bằng chính các chứng khoán mua vào.
- Cho vay kinh doanh bán lẻ: Các NH hỗ trợ cho người tiêu dùng trong việc mua xe trả góp, đồ dùng gia đình, nội thất và các hàng hóa lâu bền khác bằng cách tài trợ cho các khoản phải thu mà người bán những hàng hóa này sẽ nhận được sau khi họ ký kết hợp đồng bán hàng trả góp. Nếu các yêu cầu tín dụng được thỏa mãn, NH sẽ mua những hợp đồng này với một mức lãi suất thay đổi tùy theo chất lượng của các hợp đồng tín dụng trước với KH, chất lượng của vật thế chấp và thời hạn của các khoản vay. - Cho vay dựa trên tài sản có: Đây là loại cho vay dựa trên cơ sở số dư của các khoản phải thu, tồn kho nguyên liệu, thành phẩm. Tài sản đảm bảo cho các khoản vay này chính là các tài sản được tài trợ.
Nhu cầu vốn ngắn hạn của DN Về nguyên tắc, DN nên tận dụng và huy động tất cả các nguồn vốn ngắn hạn mà DN có thể tận dụng được. Khi nào thiếu hụt sẽ sử dụng nguồn tài trợ ngắn hạn của NH. Sự thiếu hụt vốn ngắn hạn của DN có thể do sự chênh lệch về thời gian và doanh số giữa tiền thu bán hàng và tiền đầu tư vào tài sản lưu động hoặc do nhu cầu gia tăng đầu tư tài sản lưu động đột biến theo thời vụ. Do vậy, nhu cầu tài trợ ngắn hạn của DN có thể chia thành: -Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên: Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên xuất phát từ sự chênh lệch hoặc không ăn khớp nhau về thời gian và quy mô giữa tiền vào và tiền ra của DN.
Khi DN tiêu thụ hàng hóa và thu tiền về thì DN có dòng tiền vào. Ngược lại, khi DN mua nguyên liệu hoặc hàng hóa dự trữ cho sản xuất kinh doanh, DN có dòng tiền ra. Nếu dòng tiền Luan van 12 chi ra lớn hơn dòng tiền thu vào, DN cần bổ sung thiếu hụt. Khoản thiếu hụt này trước hết bổ sung từ vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả khác mà DN có thể huy động được.
Phần còn lại DN sẽ sử dụng tài trợ ngắn hạn của NH. Đây là nguyên tắc mà cán bộ tín dụng (CBTD) cần nắm vững để xác định hạn mức TD sau này.