Chương 1: Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn Ngân hàng để gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các NHTM và mô hình nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn Ngân hàng để gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại một số Ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TPHCM. Chương 3: Giải pháp tăng cường khả năng huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn TPHCM. 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHỌN NGÂN HÀNG ĐỂ GỬI TIẾT KIỆM CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NHTM VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Nguồn vốn huy động tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Tiền gửi là một khái niệm rộng. Trong hoạt động Ngân hàng, khái niệm này được sử dụng để chỉ các khoản tiền được gửi ở các Tổ chức tín dụng (TCTD) dưới nhiều hình thức khác nhau của nhiều chủ thể khác nhau. Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.
“Nguồn: Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, 2008”. Đặc điểm - Chiếm tỷ trọng cao và đóng vai trò quan trọng trong hoạt động huy động vốn của NHTM. Đây cũng là nguồn vốn tương đối ổn định, phát triển với tiềm năng lớn từ bộ phận dân cư. - Là đối tượng phải dự trữ bắt buộc, được mua bảo hiểm tiền gửi.
- Là nguồn vốn tương đối ổn định, phát triển với tiềm năng lớn từ bộ phận dân cư. - Đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: trong suốt thời gian gửi tiền, khách hàng không được nộp thêm tiền vào sổ tiết kiệm đã gửi. - Là khoản tiền gửi có nhạy cảm với lãi suất đặc biệt là đối với các khoản gửi tiết kiệm có thời gian ngắn. - Đa dạng về kỳ hạn gửi (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn), đa dạng về loại tiền gửi (Đồng Việt Nam, ngoại tệ, vàng…) 2 1.
Vai trò của tiền gửi tiết kiệm 1. Đối với Ngân hàng thƣơng mại Các nguồn vốn huy động được sẽ quyết định quy mô cũng như định hướng hoạt động của NHTM. Nếu nguồn vốn được coi là yếu tố đầu vào trong quá trình kinh doanh của một NHTM thì nguồn vốn huy động được coi là yếu tố đầu vào thường xuyên, chủ yếu nhất, trong đó tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân là hơn 50% so với tiền gửi của khách hàng tại các NHTM. Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
Cụ thể, nếu NHTM huy động được nguồn vốn dồi dào với chi phí thấp nó có thể mở rộng được tín dụng đầu tư và thu được lợi nhuận cao. Ngược lại, với quy mô hạn chế và chi phí cao thì NHTM có thể gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh của mình. Chi phí huy động vốn của NHTM liên quan chặt chẽ với lãi suất tiền gửi các loại, lãi suất tiền gửi tiết kiệm các loại và lãi suất các công cụ nợ do NHTM phát hành. Nguồn vốn huy động không những giúp cho NHTM bù đắp được thiếu hụt trong thanh toán, tăng nguồn vốn trong kinh doanh mà thông qua huy động vốn, NHTM nắm bắt được năng lực tài chính của khách hàng có quan hệ tín dụng với NHTM.
Qua đó, NHTM có căn cứ để xác định mức vốn đầu tư cho vay đối với những khách hàng đó hoặc có thể phát hiện kịp thời tệ nạn tham ô, trốn thuế, lừa đảo của các doanh nghiệp làm ăn không chính đáng. Từ đó có biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời. Không có hoạt động huy động vốn nói chung và huy động tiền gửi tiết kiệm nói riêng thì NHTM không có đủ nguồn vốn để tài trợ cho các hoạt động của mình. Mặt khác, thông qua hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm từ khách hàng cá nhân thì NHTM cũng có thể đo lường được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với mình, từ đó NHTM không ngừng hoàn thiện các chính sách và công cụ để tăng cường hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm và mở rộng quan hệ với khách hàng.
Đối với khách hàng Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm từ khách hàng cá nhân của NHTM không những có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân các NHTM mà còn có ý nghĩa quan 3 trọng đối với khách hàng, hoạt động này cung cấp cho họ một kênh tiết kiệm và đầu tư an toàn nhằm làm tiền của họ sinh lời, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lại, mặc khác còn cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để họ cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi. Ngoài ra đây là một kênh hoạt động ngoại giao của khách hàng, nó giúp cho họ có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ khác của Ngân hàng, đặc biệt là thanh toán qua ngân hàng, dịch vụ ngân hàng điện tử và dịch vụ cấp tín dụng khi khách hàng cần vốn để sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Đối với nền kinh tế Với chức năng làm trung gian tín dụng, thanh toán, hoạt động ngân hàng góp phần quan trọng vào việc điều tiết lượng tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế, giúp Ngân hàng nhà nước điều tiết chính sách tiền tệ, kiểm soát được lạm phát. Mặt khác, thông qua hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm từ khách hàng cá nhân lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư được thu hút và huy động hiệu quả nhằm bổ sung lượng vốn cho nền kinh tế và nâng cao mức sống cho người dân, phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Bên cạnh đó, thông qua việc tiết kiệm các khoản chi tiêu, nguồn vốn này được dùng nhằm tăng cường các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho người lao động… 1. Các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm 1. Tiết kiệm không kỳ hạn Tiết kiệm không kỳ hạn là loại tiền gửi tiết kiệm mà khách hàng có thể gửi thêm vào và rút tiền khỏi tài khoản tiết kiệm nhiều lần, không hạn chế số lần gửi và rút tiền, không tất toán sổ tiết kiệm sau mỗi lần giao dịch. Căn cứ vào loại tiền: Tiết kiệm không kỳ hạn bằng VND, Tiết kiệm không kỳ hạn bằngngoại tệ, vàng… Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn có đặc điểm như sau: Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn dành cho đối tượng khách hàng có tiền tạm thời nhàn rỗi muốn gửi Ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lợi tuy nhiên nhu cầu về an toàn vốn cao 4 hơn so với nhu cầu sinh lời.
Đối với loại sản phẩm này thì khách hàng thực hiện các giao dịch gửi tiền và rút tiền, mỗi lần giao dịch rút tiền khách hàng phải xuất trình sổ tiết kiệm và không được dùng để thanh toán như tiền gửi thanh toán. Tiết kiệm có kỳ hạn Tiết kiệm có kỳ hạn là loại tiền gửi tiết kiệm mà trong đó có sự cam kết gửi tiền giữa khách hàng và Ngân hàng trong một thời hạn nhất định. Mỗi tài khoản ứng với 1 giao dịch gửi tiền và 1 giao dịch rút tiền (lúc mở và lúc tất toán). Nếu Khách hàng muốn gửi thêm tiền vào tài khoản tiết kiệm thì lập sổ tiết kiệm khác, Ngân hàng mở tài khoản tiết kiệm khác cho khách hàng.
Khi có nhu cầu rút tiền (trước hạn hoặc đúng hạn), khách hàng phải rút một lần cho toàn bộ số tiền gửi và tất toán sổ tiết kiệm (theo quy định của từng sản phẩm). Khác với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dành cho khách hàng cá nhân có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn và sinh lợi trong đó nhu cầu sinh lời đóng vai trò quan trọng. Đối tượng khách hàng chủ yếu của loại tiền gửi này là các cá nhân muốn có thu nhập ổn định và thường xuyên đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng hoặc hàng quý. Đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn khách hàng chỉ được rút tiền gửi theo đúng kỳ hạn đã cam kết, không được phép rút tiền trước hạn.
Tuy nhiên, để khuyến khích và thu hút khách hàng gửi tiền Ngân hàng cho phép khách hàng được rút tiền gửi trước hạn nếu có nhu cầu, nhưng khách hàng chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn, hoặc lãi suất kỳ hạn theo thời hạn gửi thực tế… Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có thể chia theo các tiêu chí sau: Căn cứ vào loại tiền: VND, ngoại tệ, vàng…Căn cứ vào kỳ hạn: 1 tuần, 3 tháng, 36 tháng …Căn cứ vào phương thức trả lãi: đầu kỳ, cuối kỳ, định kỳ… 1. Các loại sản phẩm tiền gửi tiết kiệm khác Ngoài các loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn thì các NHTM cũng triển khai các loại tiền gửi tiết kiệm khác như: tiền gửi tiết kiệm dự thưởng, tiền gửi tiết kiệm tiện ích, tiền gửi tiết kiệm quay số trúng thưởng với những nét đặc trưng riêng của từng loại sản phẩm. Việc triển khai nhiều sản phẩm tiền gửi 5 tiết kiệm dành cho nhiều đối tượng khách hàng mà Ngân hàng nhắm đến sẽ góp phần làm đa dạng hóa các sản phẩm của Ngân hàng. Từ đó các Ngân hàng thương mại sẽ thu hút được nhiều khách hàng và triển khai sản phẩm có hiệu quả 1.
Các rủi ro ảnh hƣởng đến lƣợng tiền gửi tiết kiệm của khách hàng 1. Rủi ro từ nhân tố môi trƣờng vĩ mô Tình hình kinh tế tăng trưởng ổn định, chính trị xã ổn ổn định, không có sự biến động lớn sẽ là điều kiện sản xuất kinh doanh thuận lợi, tạo điều kiện tốt cho hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm. Nếu suy thoái kinh tế, chính trị xã hội biến động phức tạp, lạm phát tăng cao thì sẽ gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh, từ đó làm ảnh hưởng đến lượng tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân vào các ngân hàng thương mại. Các chính sách quản lý Nhà nước như: chính sách thuế, chính sách về lãi suất, chính sách tiết kiệm, chính sách đầu tư cũng ảnh hưởng đến thu nhập của cá nhân từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền tiết kiệm được gửi vào ngân hàng thương mại.