CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU: Trong chương này tác giả sẽ đưa ra hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây có liên quan đến nghiên cứu về lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và những điều học hỏi được rút ra từ những nghiên cứu này. Sau đó tác giả sẽ trình bày các lý thuyết liên quan đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Tổng quan các nghiên cứu trước đây: 1. Nghiên cứu thực nghiệm trên Thế giới : Hiện nay đã có nhiều tác giả nước ngoài tiến hành các công trình nghiên cứu về các nhân tố có tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Những nghiên cứu trước đây: Nghiên cứu của Zeitun, R.G (2007) tác giả đã thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Dữ liệu nghiên cứu được thực hiện từ năm 1989 – 2003 của 167 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Amman – Jordan thuộc 16 ngành nghề kinh doanh khác nhau trong lĩnh vực phi tài chính. Cũng trong khoảng thời gian này một số sự kiện chính trị đã xảy ra: chiến tranh vùng Vịnh 1990-1991 và sự bùng nổ của phong trào Intifadah ở Bờ Tây và Gaza vào năm 2000. Đại diện nghiên cứu trên thị trường hiệu quả hoạt động của các công ty gồm chỉ số giá trị thị trường Tobin’s Q, giá mỗi cổ phần trên thu nhập mỗi cổ phần (P/E); hiệu quả tài chính – ROE, hiệu quả kinh doanh – ROA.
Tác giả sử dụng mô hình tác động ngẫu nhiên dữ liệu bảng không cân bằng, bởi cần phải kiểm soát hiệu quả của các ngành công nghiệp và kiểm soát đối với tác động của các ngành. Các biến yếu tố tác động được đưa vào mô hình gồm: Cấu trúc vốn (tỷ lệ đòn bẩy tài chính); Quy mô doanh nghiệp; Rủi ro kinh doanh; Thuế thu nhập;Tỷ trọng tài sản cố định; Khủng hoảng chính trị; Ngành nghề kinh doanh. Năm thước đo đòn bẩy tài chính được tác giả sử dụng: tổng nợ trên tổng tài sản, tổng nợ trên tổng vốn chủ sở hữu, nợ dài hạn trên tổng tài sản, nợ ngắn hạn trên tổng tài sản và tổng nợ trên tổng vốn chủ sở hữu, mỗi thước đo được đưa vào một mô hình nghiên cứu. Kết quả cho thấy tỷ lệ nợ có tác động mạnh nhất và ngược chiều, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp, quy mô công ty tác động cùng chiều đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
7 Marian Siminica, Daniel Circiumaru, Nicu Marcu (2008) thuộc khoa Kinh tế và quản trị kinh doanh của Đại học Craiova – Romani về hiệu quả tài chính của 73 doanh nghiệp trong nghành công nghiệp của Romani. Tiếp cận các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu tác giả sử dụng phương trình Dupont đã thực hiện nghiên cứu “ Determinants of Profitability: What factors play a role when assessing a firm’s return on assets? ” của 40 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Bucharest của Romania trong 4 năm từ năm 2007 -2010. Nghiên cứu bao gồm hai năm tăng trưởng kinh tế (2007 và 2008) và hai năm của suy thoái. Kết quả: hiệu quả kinh doanh của các công ty Rumani giảm là kết quả của cuộc khủng hoảng kinh tế.
Nghiên cứu của Yana Safarova (2010) xem xét các yếu tố quyết định đến tỷ suất sinh lợi của 76 công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán New Zealand giai đoạn 1996-2007. Tác giả đã sử dụng 8 biến để hồi quy: chi phí của doanh; tỷ lệ đòn bảy (tỷ lệ nợ); rủi ro của công ty; quy mô của công ty; số lược thành viên Ban quản trị công ty; tài sản hữu hình; tiền mặt; tăng trưởng để đo lường hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ số tài chính như: ROA, ROE, ROI, EPS trong đó ROA, ROE và Tobin Q được sử dụng chính trong việc đo lường hiệu quả hoạt động tài chính của công ty. Kết quả nghiên cứu cho thấy tăng trưởng doanh nghiệp tác động cùng chiều và tỷ lệ nợ tác động ngược chiều với tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp. Nghiên cứu của Onaolapo và Kajola (2010) thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến hịệu quả hoạt động kinh doanh dưới góc độ tài chính, được đại diện bởi chỉ số ROA, ROE.
Biến yếu tố tác động cũng gần như tương tự, gồm: Tỷ lệ nợ, Quy mô (tài sản), Tỷ trọng tài sản cố định, Tốc độ tăng trưởng (tài sản), Vòng quay tài sản, Số năm thành lập của công ty, Ngành nghề kinh doanh. Dữ liệu nghiên cứu gồm 30 công ty phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Nigeria từ năm 2001 – 2007. Mô hình tác động ngẫu nhiên được cho thích hợp bởi kiểm định Hausman với mức ý nghĩa trên 5%. Tuy nhiên, kết quả của mô hình này không khác biệt đáng kể so với mô hình ước lượng OLS; do đó tác giả bài viết kết luận dựa trên kết quả của mô hình hồi quy OLS.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ nợ tác động ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh. 8 Nghiên cứu của Abbasali Pouraghajan và Esfandiar Malekian (2012) nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp với mẫu nghiên cứu là 400 công ty thuộc 12 ngành công nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran trong những năm 2006-2010. Trong nghiên cứu này, đã sử dụng các biến phụ thuộc: Tỷ lệ nợ, Vòng quay tài sản, Quy mô công ty (tài sản), Tỷ trọng tài sản hữu hình, Tuổi công ty Tốc độ tăng trưởng. Chỉ số lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) là 2 chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các công ty.
Kết quả cho thấy mối quan hệ nghịch và tác động mạnh mẽ giữa tỷ lệ nợ điến hiệu quả kinh doanh, quy mô doanh nghiệp, và tốc độ tăng trưởng có mối quan hệ ý nghĩa và tích cực với hiệu quả hoạt động công ty (ROA và ROE). Rehana Kouser (2012) nghiên cứu này mô tả của mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp, tăng trưởng và lợi nhuận của các công ty phi tài chính niêm yết chứng khoán Karachi của Pakistan. Nghiên cứu này dựa trên mẫu của 70 (bảy mươi) các công ty phi tài chính niêm yết tại thị trường chứng khoán Karachi của Pakistan, được lựa chọn trên cơ sở giá trị vốn hóa thị trường. Lợi nhuận là một trong những đối tượng quan tâm chính trong nghiên cứu này, nó là thu nhập của doanh nghiệp và chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như quy mô doanh nghiệp, xuất khẩu của công ty, dựa vào các khoản nợ, tuổi, tài sản cố định tăng trưởng và tăng trưởng doanh thu.
Có nhiều phương pháp để đo lường khả năng sinh lời như lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên doanh thu (ROS). Tác giả đã sử dụng ba biện pháp để nghiên cứu: ROA là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản, ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để sinh lời. ROS là hiệu suất hoạt động của một công ty, nó còn được gọi là "lợi nhuận hoạt động". ROE là số tiền mà lợi nhuận của một công ty so với tổng số vốn chủ sở hữu của công ty.
Hầu hết các nghiên cứu cho thấy sự có bất đồng về quy mô doanh nghiệp, các yếu tố công nghiệp, điều kiện kinh tế và cạnh tranh cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng và lợi nhuận. Tác giả đã dựa trên các kiểu dữ liệu và các nghiên cứu trước đó, lựa chọn hồi quy dữ liệu bảng kết hợp dữ liệu chuỗi thời gian và dữ liệu chéo. Dữ liệu bao gồm 700 quan sát gồm các biến nghiên cứu như quy mô doanh nghiệp, tăng trưởng của doanh nghiệp (tốc độ tăng trưởng bền vững cho doanh nghiệp) ảnh hưởng đến tỷ suất sinh 9 lời. Nghiên cứu kết luận rằng tỷ suất sinh lợi bị tác động ngược chiều bởi các yếu tố quy mô doanh nghiệp và bị tác động cùng chiều bởi tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp.
Mou Xu và Wanrapee Banchuenvijit (2015) khi nghiên cứu 28 công ty (không bao gồm các công ty tài chính) niêm yết trên thị trường chứng khoán Thượng Hải 50 (SSE 50) trong giai đoạn 2008-2012. Nghiên cứu này xem xét các tác động của các yếu tố thanh khoản, sử dụng tài sản, đòn bẩy và quy mô doanh nghiệp về hoạt động tài chính của công ty. Biến phụ thuộc của nghiên cứu là lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), và các biến độc lập là tính thanh khoản được đo bằng tỷ lệ chuyển đổi (CR), sử dụng tài sản được đo bằng tỷ lệ tổng doanh thu tài sản (TAT), đòn bẩy được đo bằng tỷ lệ nợ (DR), và một biến giả là quy mô doanh nghiệp. Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu hàng năm từ báo cáo tài chính bắt đầu từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 12 năm 2012.
Sử dụng mô hình hồi quy với Least squares, đa cộng tuyến, heteroskedasticity và tự tương quan. Tác giả đã tìm thấy việc sử dụng đòn bẩy và tài sản là những yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính. Đối với hai chỉ tiêu đo lường (ROA và ROE) kết quả cho thấy một mối quan hệ tích cực và đáng kể giữa việc sử dụng tài sản và hoạt động công ty và một tiêu cực và đáng kể mối quan hệ giữa đòn bẩy và hiệu suất công ty. Vì vậy dữ liệu được phân tích với biến phụ thuộc lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) để đo lường hiệu quả sử dụng tài sản (vòng quay tài sản) tác động cùng chiều đến tỷ suất sinh lợi (ROE).
Trong khi đó, tỷ lệ nợ tác động ngược chiều đến tỷ suất sinh lợi (ROE). Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam: Nghiên cứu của Trần Thị Hòa (2006) về hiệu quả tài chính của 82 doanh nghiệp thương mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Bằng mô hình hồi quy đơn, kết quả cho thấy tỷ suất sinh lời của tài sản, khả năng sinh lời kinh tế của tài sản, Số vòng quay vốn lưu động là ba nhân tố có mối tác động thuận chiều tới hiệu quả tài chính (ROE); tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu tác động ngược chiều tới (ROE). Nghiên cứu Đoàn Ngọc Phi Anh (2011) về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc 10 tài chính và hiệu quả tài chính trên 428 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam với thời gian từ 2007-2009 cũng đã chỉ ra rằng: hiệu quả hoạt động kinh doanh và cấu trúc tài chính có thể giải thích được 90% sự biến động của hiệu quả tài chính trong doanh nghiệp.