Chương 1 sẽ hệ thống hoá các cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động và các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của NHTM. Cơ sở lý thuyết về hiệu quả và hiệu quả hoạt động của NHTM 2. Khái niệm hiệu quả Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội và ở mỗi lĩnh vực khác nhau, xét trên góc độ khác nhau thì có những cách nhìn nhận, quan điểm khác nhau về vấn đề hiệu quả. Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa".
Theo nhà kinh tế học M. Theo Hollingsworth và Parkin (1998) xác định hiệu quả là "sự phân bổ các nguồn lực khan hiếm nhằm tối đa hóa việc đạt được mục tiêu" (trích dẫn ở Bdour và Al- khoury, 2008, trang 167). Theo Cooper (2004) một DMU (Decision Making Unit – đơn vị ra quyết định - có thể là doanh nghiệp, ngân hàng hay bất cứ đơn vị sản xuất, kinh doanh nào…) được đánh giá là hiệu quả hoàn toàn 100% trên cơ sở chứng cứ rõ ràng nếu và chỉ nếu hiệu quả của những DMU khác không cho thấy rằng một số yếu tố đầu vào hay đầu ra của nó có thể được cải thiện mà không làm xấu đi một số yếu tố đầu vào hoặc đầu ra khác. Theo Coelli (2005) hiệu quả là mối quan hệ giữa nguồn lực đầu vào (như lao động, vốn, máy móc…) với kết quả trung gian hay kết quả cuối cùng.
Từ các quan điểm trên có thể thấy cho đến hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về vấn đề hiệu quả. Thông thường khi nhắc đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, người ta thường để cập đến hai phạm trù hiệu quả là hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh tế xã hội. Theo Ngô Đình Giao (1997) (i) “Hiệu quả kinh tế của một 7 hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định”. (ii) Hiệu quả kinh tế - xã hội là hiệu quả mà doanh nghiệp đem lại cho xã hội và nền kinh tế quốc dân.
Nó thể hiện qua việc tăng thu ngân sách cho Nhà nước, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống của người lao động và tái phân phối lợi tức xã hội. Do vậy, để làm rõ và thống nhất về thuật ngữ “hiệu quả hoạt động” (hay hiệu quả hoạt động kinh doanh) trong luận văn sẽ được hiểu và xem xét trên khía cạnh hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh. Tóm lại, từ các định nghĩa trên về hiệu quả và hiệu quả kinh tế, có thể đúc kết hiệu quả hoạt động là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực hay các biến số đầu vào (các yếu tố sản xuất như vốn, nhân lực, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên,.) để đạt được các kết quả đầu ra hay mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định. Mối tương quan này có thể được thể hiện: Hiệu quả = Đầu ra /Đầu vào Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh đã cho thấy bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.
Hay nói cách khác nó phản ánh những lợi ích đạt được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở so sánh kết quả thu được (doanh thu, lợi nhuận,.) với chi phí bỏ ra trong suốt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Theo giáo sư kinh tế học và tài chính Peter S.Rose thì về bản chất ngân hàng thương mại cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Tuy nhiên, khả năng sinh lời là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần, thu hút vốn đầu tư. Do vậy, khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh trên cũng phù hợp với ngân hàng.
8 Do đó, đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại (hay hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng) trong bài nghiên cứu này chính là đánh giá khả năng sử dụng các nguồn lực của ngân hàng (nguồn vốn, nhân lực, công nghệ), khả năng quản lý để đạt được kết quả đầu ra tốt nhất, hay khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng thương mại với vai trò quan trọng là tổ chức trung gian tài chính giúp lưu chuyển vốn trong nền kinh tế, sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng thương mại có quan hệ chặt chẽ với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Vì vậy, trong đánh giá hoạt động ngân hàng thì hiệu quả hoạt động kinh doanh cần được đánh giá trong mối quan hệ chặt chẽ với rủi ro. Hiệu quả hoạt động kinh doanh được coi là tốt hơn khi mức độ rủi ro không đổi nhưng hiệu quả cao hơn, hoặc với hiệu quả không đổi nhưng mức độ rủi ro thấp hơn.
Phân loại hiệu quả hoạt động Theo nhà kinh tế học M. Cụ thể: Hiệu quả kỹ thuật (TE) đạt được khi doanh nghiệp có thể sản xuất ở mức tối đa các kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào nhất định hoặc mức tối thiểu các yếu tố đầu vào với các đầu ra nhất định. Cụ thể, theo Koopmans "một doanh nghiệp đạt hiệu quả kỹ thuật nếu nó không thể sản xuất hơn một đầu ra mà không sản xuất ít hơn một số đầu ra khác hoặc sử dụng nhiều hơn một số yếu tố đầu vào" (trích dẫn trong Mokhtar, AlHabshi, và Abdullah, 2006 trang 2). Nói cách khác, không có lãng phí phát sinh trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
Hiệu quả kỹ thuật gồm có Hiệu quả kỹ thuật thuần túy (Pure Technical Efficiency – PE) và hiệu quả quy mô (Scale Efficiency – SE). Hiệu quả phân bổ (AE) đề cập đến sự kết hợp tối ưu đầu vào và đầu ra tại một mức giá nhất định. Mục đích của doanh nghiệp bao gồm: sản xuất các đầu ra cho 9 trước tại chi phí tối thiểu (cost efficiency); sử dụng các yếu tố đầu vào cho trước để tối đa hóa doanh thu (revenue efficiency); và phân bổ các đầu vào và đầu ra để tối đa hóa lợi nhuận (profit efficiency) (Mokhtar và các tác giả khác, 2006). Do đó theo Farrell, sự kết hợp của hai thành phần hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ sẽ tạo ra hiệu quả kinh tế tổng thể (overall economic efficiency – OE).
Khái niệm này được minh họa như sau: Hình 2.1: Hiệu quả kinh tế tổng thể (OE), hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả phân bổ (AE) Nguồn: Coelli, Prasada Rao & Battese (1998, p. 135) Biểu đồ trên minh họa một doanh nghiệp sử dụng hai yếu tố đầu vào (X1 và X2) để sản xuất ra kết quả đầu ra (y) tại điểm P. Đường cong SS' cho thấy khả năng kết hợp các yếu tố đầu vào mà doanh nghiệp có thể sản xuất một cách hoàn toàn hiệu quả. Đường AA' là đường tỷ lệ giá của các yếu tố đầu vào, nó thể hiện sự kết hợp đa dạng các yếu tố đầu vào tại cùng mức chi tiêu như nhau.
Nếu sản xuất của công ty hiệu quả, nó sẽ đạt tại điểm Q' là điểm có chi phí tối thiểu. Đó là điểm giao nhau giữa đường SS' và AA', nơi mà chỉ rõ sự kết hợp các yếu tố đầu vào tại Q' là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Vì doanh nghiệp đang sử dụng kết hợp các đầu vào tại điểm P nên xảy ra hai dạng phi hiệu quả. Đầu tiên, là phi hiệu quả kỹ thuật, bằng cách di chuyển đến điểm Q, nó có thể sản xuất cùng một lượng đầu ra 10 với đầu vào ít hơn.
Vì vậy, để đo lường độ lớn hiệu quả kỹ thuật của một doanh nghiệp (TE), tỷ lệ được tính toán là OQ/OP hoặc bằng 1 - QP/OP. Thứ hai, đó là phi hiệu quả phân bổ. Sản xuất tại điểm P chứng tỏ rằng doanh nghiệp đã thực hiện một lựa chọn sai lầm khi kết hợp các yếu tố đầu vào ở mức giá nhất định, do đó gia tăng chi phí nhiều hơn nếu nó sản xuất tại điểm Q'. Để đo lường hiệu quả phân bổ (AE), tỷ lệ này được tính bằng OR/OQ.
Do đó, dựa trên khái niệm của Farrell, hiệu quả tổng thể (OE) được tính bằng hiệu quả kỹ thuật (TE) nhân với hiệu quả phân bổ (AE), có thể được viết thành: OE = TE X AE = (OQ/OP) X (OR/OQ). Tuy nhiên, do hạn chế về vấn đề thời gian cũng như khó khăn trong việc xác định giá của các yếu tố đầu vào (cụ thể là yếu tố nguồn vốn chủ sở hữu ngân hàng), nên luận văn chỉ tập trung phân tích, đánh giá về mặt hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency) dựa trên quan điểm của nhà kinh tế học M.Farrell (1957) là khả năng đơn vị kinh doanh sản xuất tối đa hóa đầu ra với số lượng đầu vào cho trước hoặc tối thiểu hóa yếu tố đầu vào để sản xuất ra được một lượng đầu ra. Các phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động Theo lý thuyết, có hai phương pháp để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng: Thứ nhất, phương pháp kinh điển được các nhà phân tích sử dụng khá phổ biến trong đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng là phương pháp phân tích các chỉ số tài chính, chằng hạn như các chỉ số ROA, ROE, NIM, NNIM, EVA, EPS… Trong đó, lợi nhuận được xem là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động thích hợp và được sử dụng rộng rãi nhất, đặc biệt là ROA và ROE (hay ROAA và ROEA). Theo Ngân hàng dự trữ liên bang thành phố Kansas (Forest E.Myers, Division of Supervision and Risk Management Federal Reserve Bank of Kansas City, 2005 trang 69) “ROA là một trong những cách đo lường thường được sử dụng nhất để đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng”.
ROA hay ROAA cung cấp một bức tranh đơn giản về khả năng quản lý để tạo ra lợi nhuận từ tài sản đã đầu tư.