CHƯƠNG 1 Chương đầu tiên đã tổng quan về đề tài và lý do tác giả chọn đề tài này làm nghiên cứu. Tác giả đưa ra nội dung nghiên cứu bao gồm câu hỏi nghiên cứu nhằm tìm câu trả lời cho mục tiêu nghiên cứu chung là xác định các yếu tố tác động đến TTTD của các NHTM Việt nam. Đồng thời, chương đầu tiên này mô tả cụ thể đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Ngoài ra, thảo luận về cấu trúc của đề tài nghiên cứu, được chia thành năm chương và tác giả cũng đã tóm tắt các ý của nội dung chính cho từng chương.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Chương 2 đóng vai trò nền tảng cho bài khóa luận tốt nghiệp này, cung cấp một bức tranh toàn cảnh về lý thuyết và xác định hướng nghiên cứu cho bài luận. Mục tiêu chính của chương này, gồm xây dựng nền tảng lý thuyết vững chắc, giới thiệu các khái niệm để tạo dựng cơ sở để liệt kê và giải thích các yếu tố tác động đến TTTD. Tổng hợp và đánh giá các nghiên cứu trước đây và xác định khe hở nghiên cứu sẽ là kim chỉ nam cho việc thu thập dữ liệu, phân tích và thảo luận kết quả cho các chương tiếp theo. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại 2.
Khái niệm Trên các góc độ khác nhau, khái niệm về tín dụng được hiểu như sau: Theo Bùi Diệu Anh và cộng sự (2010), Tín dụng là hoạt động cho vay vốn được thực hiện bởi các NH, TCTD nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho các đối tượng trong nền kinh tế, với điều kiện hoàn trả số tiền lớn hơn số tiền ban đầu (cả gốc và lãi). Một khái niệm về tín dụng ngân hàng như sau: “Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng chấp nhận để khách hàng sử dụng một lượng tài sản bằng tiền, tài sản thực hay uy tín trên cơ sở tin tưởng khách hàng có khả năng hoàn trả cả gốc và lãi khi đáo hạn” (Nguyễn Văn Tiến , 2013) Lê Thị Tuyết Hoa và Đặng Văn Dân (2017) “ Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong xã hội. Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, do vậy trong quan hệ tín dụng với các chủ thể kinh tế khác nhau ngân hàng có thể vừa là người đi vay, vừa là người cho vay” Nhờ vậy, ngân hàng giúp luân chuyển vốn hiệu quả giữa các chủ thể kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tín dụng ngân hàng đóng vai trò trung gian trong việc kết nối nguồn vốn nhàn rỗi từ các chủ thể tiết kiệm với các chủ thể có nhu cầu vốn đầu tư, kinh doanh.
9 Từ những khái niệm nêu trên, Tín dụng có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng theo tác giả bản chất của tín dụng là một giao dịch giữa ngân hàng (bên cho vay) sẽ chuyển quyền sử dụng vốn cho khách hàng (bên đi vay) trong một khoảng thời gian xác định nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của khách hàng. Đến khi kết thúc thời hạn cho vay, khách hàng phải hoàn trả cho ngân hàng (nơi vay) cả số tiền nợ gốc và số tiền lãi vay (tương ứng với số tiền gốc). Đặc điểm của tín dụng Ngân hàng Thương mại Tín dụng NHTM được đặc điểm hóa theo năm khía cạnh (Nguyễn Minh Kiều, 2012): Thứ nhất, “tín dụng dựa trên lòng tin”. Ngân hàng chỉ cung cấp vốn khi tin tưởng vào khả năng và cam kết của khách hàng sử dụng vốn một cách hiệu quả và có khả năng trả nợ đúng hạn.
Đây là đặc điểm ưu tiên nhất để xây dựng quan hệ tín dụng. Thứ hai, “tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn vay hay có tính hoàn trả”. Ngân hàng, là một bên trung gian tài chính, thường đi vay để cho vay, vì vậy mọi khoản tín dụng của ngân hàng phải có thời hạn, đảm bảo tuân thủ việc trả nợ. Thứ ba, “nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”.
Sự trả nợ không chỉ bao gồm giá trị gốc mà còn bao gồm cả lãi suất. Lãi suất này không chỉ bù đắp cho chi phí hoạt động mà còn tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Thứ tư, “tín dụng phải trên cơ sở hoàn trả vô điều kiện”. Việc vay và cho vay phải tuân thủ các quy định pháp lý, thông qua các hợp đồng tín dụng và cam kết trả nợ đúng hạn của bên vay và bảo lãnh (nếu có), phải cam kết hoàn trả khoản vay cho ngân hàng vô điều kiện khi đến hạn.
Thứ năm, “rủi ro trong tín dụng là tính tất yếu, không thể loại trừ được hoàn toàn”. Rủi ro xuất hiện khi người đi vay không có thiện chí trả nợ hay không có khả năng trả nợ như đã cam kết. Mặt khác, trong quá trình khách hàng sử dụng tín dụng thì có thể gặp nhiều biến cố khách quan ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng và khách hàng, làm cho khả năng trả nợ của khách hàng thay đổi. Do tiềm ẩn rủi ro trong tín 10 dụng cao, NHTM chỉ có thể hạn chế hoặc kiểm soát tác động của chúng đối với HĐKD của NH chứ không thể loại bỏ triệt để.
Vai trò của tín dụng ngân hàng Đối với nền kinh tế Tín dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp bằng cách hỗ trợ tái sản xuất xã hội, tăng cường vốn đầu tư và hiệu suất của việc đầu tư, cũng như chuyển đổi vốn từ những nguồn có thặng dư tạm thời sang những nơi cần thiết hơn. Quá trình trên giúp tổ chức phân bổ một cách tối ưu các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế. “Những nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi không có khả năng sinh lời nay được huy động trở thành hữu ích và tiếp tục sinh lời; đối với những chủ thể đang bị thiếu hụt vốn cũng nhờ vậy được bổ sung vốn kịp thời đáp ứng nhu cầu mở rộng và phát triển sản xuất, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hóa” (Lê Thị Tuyết Hoa và Đặng Văn Dân, 2017). Điều này được thực hiện thông qua việc chuyển vốn từ những dự án ít hiệu quả sang những dự án có triển vọng cao hơn mà thiếu vốn.
Cả người vay và ngân hàng đều cố gắng sử dụng vốn một cách hiệu quả để tránh rủi ro không trả nợ, từ đó giúp thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo xu hướng tích cực, tạo ra việc làm và nâng cao năng suất lao động. Tín dụng với tư cách là phương tiện điều tiết kinh tế - xã hội của Nhà nước và chính phủ. Bằng cách tập trung vào các khu vực kinh tế trọng điểm, tín dụng có thể đẩy mạnh phát triển của các ngành nghề và thiết lập cơ cấu kinh tế tối ưu hơn bằng cách ưu tiên đầu tư nguồn vốn tín dụng vào những lĩnh vực này. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay NH nhận được bảo lãnh từ Nhà nước và hỗ trợ lãi suất trong những thời điểm kinh tế khó khăn.
Tín dụng NH là một cách cấp thiết giúp tài trợ của Nhà nước được chuyển đến nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam, từ đó góp phần vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo và ổn định Chính trị - Xã hội. Điều này thể hiện vai trò chủ chốt của tín dụng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế và cân bằng xã hội. Hoạt động tín dụng NH đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy lưu thông tiền tệ thông qua việc các công cụ lãi suất, giúp ổn định giá trị đồng tiền. 11 Đối với ngân hàng Ngân hàng có thể cung cấp cho khách hàng nhiều loại dịch vụ khác nhau bằng cách đa dạng hoạt động tín dụng, chẳng hạn như tư vấn, bảo lãnh, giao dịch chứng khoán và ngoại tệ, v.
Phần lớn các NHTM sử dụng chiến lược phát triển các dịch vụ NH hiện đại, đặc biệt là trong những thời điểm nền kinh tế thị trường đang phát triển, để hướng đến đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ và đáp ứng nhu cầu mới của thị trường và coi đó là chiến lược HĐKD quan trọng nhất trên thị trường. Tín dụng đóng vai trò chủ lực trong việc tạo ra nguồn thu nhập cho NHTM. Lợi nhuận được tạo ra từ sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động, cùng với các khoản phí dịch vụ khác theo quy định để tăng doanh thu. Phần thu nhập chiếm một phần đáng kể trong tổng doanh thu của các NHTM.
Vì vậy, thu nhập từ việc cho vay được xem là yếu tố chủ chốt quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Tuy nhiên, rủi ro lớn nhất trong HĐKD của NH thường là rủi ro tín dụng. Điều này làm cho các NHTM luôn đặc biệt quan tâm và nỗ lực cải thiện quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng. Tín dụng giúp NH mở rộng HĐKD, áp dụng chiến lược đầu tư đa dạng giúp họ giảm thiểu rủi ro.
Điều này giúp tăng cường sức cạnh tranh và để duy trì vị thế vững chắc trên thị trường. Đối với khách hàng Trên vai trò trung gian tài chính, ngân hàng hoạt động như cầu nối trung gian, hội tụ nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và cung cấp nguồn vốn cho các khách hàng cần vốn, góp phần phân phối nguồn lực tài chính đến các lĩnh vực cần thiết, giúp KH nâng cao khả năng đầu tư và phát triển. Tín dụng NH, hoạt động theo phương thức "đi vay để cho vay". KH có thể sử dụng tín dụng từ ngân hàng để đầu tư vào các dự án mới, mở rộng HĐKD, hoặc đầu tư vào cải tiến công nghệ và quy trình sản xuất.
Điều này giúp họ tạo ra cơ hội phát triển và tăng trưởng kinh doanh. 12 Hỗ trợ về tài chính cá nhân, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn và cải thiện chất lượng cuộc sống bằng cách cung cấp tiền vay cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau với các nhu cầu tài chính cá nhân như mua nhà, mua ô tô, hoặc chi trả cho việc giáo dục của con cái. Khả năng quản lý tài chính tốt bởi sử dụng tín dụng một cách thông minh và hiệu quả cũng giúp khách hàng học hỏi và phát triển khả năng quản lý tài chính của mình. Kết luận lại, trong nền kinh tế thị trường, hệ thống tín dụng NHTM đóng vai trò then chốt trong việc điều tiết dòng vốn và đáp ứng nhu cầu vốn cho các hoạt động kinh tế - xã hội.