Chương I giới thiệu về vấn dé và lý do mà đề tài được chọn đề thực hiện nghiên cứu. Theo đề tài đó, tác giả trình bày các mục tiêu nghiên cứu cần thực hiện, đối tượng và phạm vi của nghiên cứu, cách lựa chọn mô hình, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu cùng với các đóng góp của nghiên cứu về phương diện học thuật và thực tiễn. 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TÔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Mối quan hệ mật thiết giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng với tốc độ tăng trưởng cung tiền trong nền kinh tế cần được tìm hiểu. Chính sách tiền tệ được sử dụng để thực hiện thay đổi mức lãi suất trên thị trường vốn vay bởi Ngân hàng Nhà nước thông qua cung tiền.
Nhờ vậy Chính phủ có thể thúc đây các tổ chức và doanh nghiệp tham gia đầu tư sản xuất, kinh đoanh, gia tăng phạm vi hoạt động và kích thích tăng trưởng kinh tế. Vào thời buổi kinh tế đang chịu sức ép từ làn sóng giải thể doanh nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, các chính sách về tăng trưởng tín dụng hướng đến việc hỗ trợ tạo cho người lao động nhiều việc làm, kích cầu đầu tư đối với doanh nghiệp là mục tiêu quan trọng và cần thiết. Tăng trưởng kinh tế Khái niệm tăng trưởng kinh tế trong kinh tế học được định nghĩa là sự gia tăng hay mở rộng quy mô của mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế một quốc gia (Hoàng Xuân Bình, 2015). Tăng trưởng kinh tế thể hiện cho sự phát triển về kinh tế, phúc lợi và an sinh xã hội của quốc gia.
Tốc độ của tăng trưởng kinh tế được đo lường bởi 02 chỉ số gồm tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và chỉ số tổng sản phâm quốc dân (GNP). Tăng trưởng kinh tế đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế quốc gia, sự giàu có là mục tiêu mà hầu hết quốc gia nào cũng mong muốn đạt được. Một quốc gia có sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ sẽ thể hiện sự đáp ứng tốt các nhu cầu của người dân về các vấn đề như cơ sở vật chất, an ninh, phúc lợi, y tế, giáo dục,. Mức độ tăng trưởng kinh tế được quyết định bởi sự tăng cao trong năng suất lao động, 15 mà yếu tố năng suất lao động được xây dựng dựa trên các nguồn lực như vốn lao động, tích lũy tư bản, tài nguyên thiên nhiên và khoa học công nghệ.
Trong hoạt động sản xuất, vốn lao động thể hiện cho số người lao động và chất lượng của lao động. Chất lượng này được hiểu là kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng của người lao động. Tích lũy tư bản là những công cụ được tạo ra để phục vụ quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ như trang thiết bị, máy móc thiết bị. Tài nguyên thiên nhiên bao gồm tài nguyên thiên có thể tái tạo như gỗ và không thể tái tạo như quặng kim loại.
Nguồn lực cuối cùng là khoa học công nghệ, đó là tri thức, sự hiểu biết về khoa học để áp dụng vào công nghệ trong quá trình sản xuất, chế biến hàng hóa và dịch vụ. Một số chính sách phát triển sự tăng trưởng kinh tế bao gồm khuyến khích tiết kiệm và đầu tư nội địa, thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài, nâng cao chất lượng vốn lao động, phát triển khoa học công nghệ, mở rộng thương mại quốc tế và kiểm soát tốc độ gia tang dan số. Thứ nhất, khuyến khích tiết kiệm va đầu tư trong nước là chính sách chú trọng việc tiết kiệm trong chỉ tiêu những hàng hóa dịch vụ tiêu dùng để tập trung dòng tiền đầu tư vào tích lũy tư bản, tạo điều kiện để sản xuất nhiều hàng hóa dịch vụ hơn. Thứ hai, thu hút vốn đầu tư nước ngoài là chính sách thu hút đầu tư nước ngoài thông qua 02 hình thức là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Trong đó, đầu tư trực tiếp là việc các nhà đầu tư nước ngoài dùng nguồn lực của họ vào xây dựng và trực tiếp quản lý hoạt động sản xuất và kinh đoanh. Đầu tư gián tiếp là việc mà nhà đầu tư nước ngoài rót vốn vào đoanh nghiệp nội địa thông qua việc mua chứng khoán. Thứ ba, chính sách về vốn lao động chú trọng quá trình đào tạo, bồi dưỡng tri thức, kinh nghiệm làm việc cho người lao động. Thứ tư, phát triển khoa học công nghệ là chính sách chú trọng việc khuyến khích nghiên cứu, tạo ra nhiều cơ hội cho hoạt động nghiên cứu khoa học phát triển.
Thứ năm, chính sách mở rộng thương mại quốc tế là việc mở rộng quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trong việc trao đổi, mua bán hàng hóa dịch vụ nhằm đạt được lợi 16 ích kinh tế. Cuối cùng, chính sách kiểm soát tốc độ gia tăng dân số là việc giữ cho mức tăng dân số ở mức vừa phải và hợp lý, không quá ít để thiếu hụt lao động và không quá nhiều để làm giảm năng suất lao động. Ngân hàng Ngân hàng ra đời nhằm phục vụ nhu cầu tích trữ và vay mượn tiền bạc của người dân. Hoạt động chính của ngân hàng là nhận tiền gửi và mang số tiền đó đem đi cho vay đối với những cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng tiền.
Ở Việt Nam, ngân hàng là loại hình tô chức tín dụng có thê thực hiện tat cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Tổ chức tín dụng. Hệ thống ngân hàng tại Việt Nam được phân loại gồm 03 loại đó là ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã. Thứ nhất, ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Ngân hàng thương mại có lĩnh vực hoạt động rất đặc biệt nên vai trò của tổ chức này rất quan trọng và khó có thê thay thế được đối với các chủ thê khác trong nền kinh tế Ngân hàng thương mại được chia thành 04 loại gồm: e NHTM Nhà nước là ngân hàng thương mại được thành lập, tổ chức đưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ.
e NHTM Cổ phần là ngân hàng thương mại được thành lập, tổ chức đưới hình thức công ty cổ phần e Ngân hàng 100% vốn ngước ngoài: là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu của tô chức tín dung nước ngoài; là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam e Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của Bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân hàng 17 Việt Nam) và Bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh; là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam. Thứ hai, ngân hàng chính sách là ngân hàng hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước. Thứ ba, ngân hàng hợp tác xã là ngân hàng của tất cả các quỹ tín dụng nhân dân do các quỹ tín đụng nhân dân và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân 2. Tín dụng ngân hàng Trong hoạt động của ngân hàng thương mại, hoạt động cho vay nằm trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Theo đó, hoạt động này mang lại doanh thu và lợi nhuận rất lớn cho ngân hàng. Theo Bùi Diệu Anh, Hồ Diệu và Lê Thị Hiệp Thương (2009), tín dụng ngân hàng được xem là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng hay tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (cá nhân, tổ chức hoặc doanh nghiệp khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Hiểu một cách đơn giản, hoạt động tín dụng ngân hàng là hoạt động cho vay của ngân hàng đối với những chủ thê như các cá nhân, tổ chức hoặc doanh nghiệp có nhu cầu vay von. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại là hoạt động có phạm vi rất rộng và mang tính linh hoạt.
Trong ngân hàng thương mại, tín dụng gồm các hoạt động như sau: hoạt động cho vay; hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyền nhượng và giấy tờ có giá khác; hoạt động bảo lãnh ngân hàng; hoạt động phát hành thẻ tín dụng; hoạt động bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế và một số hình thức cấp tín dụng khác. Thứ nhất, hoạt động cho vay của 18 ngân hàng là hoạt động ngân hàng giao quyền sử dụng tiền cho bên đi vay và bên đi vay cam kết hoàn trả đúng số tiền và lãi sau một thời gian nhất định. Thứ hai, hoạt động chiết khấu của ngân hàng là hoạt động khách hàng chuyên nhượng quyền sở hữu giấy tờ có giá cho ngân hàng để nhận lại một số tiền dựa trên giá trị đến hạn bị trừ đi một phần lãi. Thứ ba, hoạt động bảo lãnh của ngân hàng thương mại là hoạt động của bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh rằng sẽ thực hiện những nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ hoặc chỉ thực hiện một phần nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Thứ tư, hoạt động phát hành thẻ tín dụng của ngân hàng là hoạt động ngân hàng cấp cho khách hàng một hạn mức dùng để chỉ tiêu trước và sau một khoản thời gian phải hoàn trả lại đúng số tiền đó theo thỏa thuận giữa ngân hàng và chủ thẻ. Thứ năm, hoạt động bao thanh toán của ngân hàng là hoạt động khách hàng chuyền nhượng quyền đòi nợ từ các khoản nợ phải thu cho ngân hàng và nhận lại một số tiền dựa trên giá trị khoản nợ phái thu trừ đi một phần chiết khấu. Phân loại tín dụng ngân hàng được dựa vào các đặc tính như thời gian vay, đối tượng cho vay, mục đích sử dụng vốn, tính đảm bảo và phạm vi lãnh thổ. Dựa trên thời gian vay, tín dụng ngân hàng được phân làm 03 loại là tín dụng ngân hàng ngắn hạn, tín dụng ngân hàng trung hạn và tín dụng ngân hàng đài hạn.