Luận văn Thạc sĩ: Các yếu tố ảnh hưởng sự hài lòng về công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT tại Cục Thuế Cà Mau

Phân tích các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người nộp thuế khi nhận hỗ trợ tuyên truyền từ Cục Thuế tỉnh Cà Mau. Nghiên cứu này cung cấp

Trường đại học

Đại học Bình Dương

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

151
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế Cà Mau

Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế là hoạt động then chốt trong quản lý thuế hiện đại. Tại Cục Thuế tỉnh Cà Mau, nhiệm vụ này bao gồm phổ biến chính sách thuế, hướng dẫn thủ tục hành chính và giải đáp vướng mắc cho người nộp thuế. Nghiên cứu của Trần Thị Hồng Ngọc năm 2018 đã áp dụng mô hình SERVQUAL của Parasuraman để đánh giá mức độ hài lòng. Kết quả chỉ ra bảy yếu tố ảnh hưởng chính: hệ thống thông tin, thủ tục hành chính thuế, sự minh bạch, năng lực phục vụ, sự cảm thông, sự đáp ứng, mức độ tin cậy và cơ sở vật chất kỹ thuật. Người nộp thuế tại Cà Mau chủ yếu là hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp nhỏ. Họ cần thông tin rõ ràng, dễ tiếp cận. Sự hài lòng của người nộp thuế gắn liền với hiệu quả thu ngân sách nhà nước. Công tác tuyên truyền tốt giúp tăng cường tuân thủ tự nguyện, giảm chi phí hành chính và xây dựng niềm tin giữa cơ quan thuế với người dân.

1.1. Vai trò của tuyên truyền thuế trong quản lý nhà nước

Tuyên truyền thuế đóng vai trò cầu nối giữa cơ quan thuế và người nộp thuế. Hoạt động này giúp người dân hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ khi thực hiện nghĩa vụ thuế. Tại Cà Mau, vùng đất cuối cùng của Tổ quốc, đặc thù kinh tế nông nghiệp thủy sản đòi hỏi hình thức tuyên truyền phù hợp. Cơ quan thuế phải tiếp cận trực tiếp, dùng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu. Tuyên truyền hiệu quả giúp giảm tình trạng vi phạm thuế, tăng tỷ lệ kê khai đúng hạn. Đồng thời nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế trong cộng đồng doanh nghiệp và người dân địa phương.

1.2. Thực trạng dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế tại Cà Mau

Cục Thuế tỉnh Cà Mau quản lý thuế trên địa bàn rộng với nhiều huyện đảo, vùng sâu. Dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế bao gồm: tư vấn trực tiếp tại cơ quan thuế, hỗ trợ qua điện thoại, tổ chức hội nghị tập huấn và phát tài liệu hướng dẫn. Tuy nhiên, hạ tầng công nghệ thông tin còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ tuyên truyền chưa đồng đều về chuyên môn. Nhiều người nộp thuế ở xa trung tâm khó tiếp cận dịch vụ. Thời gian xử lý hồ sơ đôi khi chưa đáp ứng kỳ vọng. Đây là những thách thức cần giải quyết để nâng cao mức độ hài lòng.

II. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng người nộp thuế

Nghiên cứu xác định bảy nhóm yếu tố tác động đến sự hài lòng của người nộp thuế tại Cục Thuế tỉnh Cà Mau. Thứ nhất, hệ thống thông tin và thủ tục hành chính thuế ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm người nộp thuế. Thứ hai, sự minh bạch trong hoạt động công vụ tạo niềm tin. Thứ ba, năng lực phục vụ của cán bộ thuế quyết định chất lượng dịch vụ. Thứ tư, sự cảm thông thể hiện thái độ đồng hành với khó khăn của người nộp thuế. Thứ năm, sự đáp ứng phản ánh tốc độ giải quyết yêu cầu. Thứ sáu, mức độ tin cậy liên quan đến cam kết thực hiện đúng lời hứa. Thứ bảy, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ quá trình giao dịch. Mỗi yếu tố đều có mức độ ảnh hưởng khác nhau. Nghiên cứu sử dụng thang đo Likert năm bậc để đo lường. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy năng lực phục vụ và sự minh bạch có tác động mạnh nhất đến sự hài lòng.

2.1. Hệ thống thông tin và thủ tục hành chính thuế

Hệ thống thông tin thuế bao gồm website, phần mềm kê khai điện tử và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Tại Cà Mau, việc cập nhật thông tin thuế chưa thường xuyên. Nhiều người nộp thuế phản ánh khó tìm hiểu chính sách mới. Thủ tục hành chính thuế tuy đã cải tiến nhưng vẫn còn phức tạp. Một số quy định chồng chéo gây khó hiểu. Thời gian chờ đợi khi giao dịch trực tiếp còn dài. Người nộp thuế mong muốn thủ tục đơn giản hơn, thông tin dễ tiếp cận hơn. Đây là yếu tố có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu, ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng.

2.2. Năng lực phục vụ và sự minh bạch của cán bộ thuế

Năng lực phục vụ thể hiện qua trình độ chuyên môn, kỹ năng giao tiếp và khả năng giải quyết vấn đề của cán bộ thuế. Nghiên cứu cho thấy đây là yếu tố có hệ số ảnh hưởng lớn nhất đến sự hài lòng. Cán bộ có năng lực giúp người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ nhanh chóng, chính xác. Sự minh bạch liên quan đến công khai quy trình, tiêu chí xử lý hồ sơ và kết quả giải quyết. Tại Cà Mau, mức độ minh bạch còn hạn chế. Người nộp thuế chưa được thông tin đầy đủ về tiến độ xử lý. Cần tăng cường công khai thông tin để nâng cao niềm tin.

III. Giải pháp nâng cao sự hài lòng về tuyên truyền hỗ trợ thuế

Từ kết quả phân tích, nghiên cứu đề xuất nhiều giải pháp nâng cao sự hài lòng của người nộp thuế tại Cục Thuế tỉnh Cà Mau. Trước hết, cần hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin thuế. Triển khai ứng dụng di động, cổng thông tin điện tử thân thiện giúp người nộp thuế tra cứu dễ dàng. Thứ hai, tăng cường đào tạo nâng cao năng lực cán bộ. Chú trọng kỹ năng giao tiếp, thái độ phục vụ và chuyên môn nghiệp vụ. Thứ ba, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền. Kết hợp kênh trực tuyến với kênh truyền thống như loa phát thanh, tờ rơi, xe tuyên truyền lưu động. Thứ tư, xây dựng cơ chế phản hồi nhanh. Thiết lập đường dây nóng, hộp thư điện tử tiếp nhận ý kiến. Thứ năm, cải thiện cơ sở vật chất tại điểm giao dịch. Đảm bảo không gian sạch sẽ, tiện nghi và thân thiện. Cuối cùng, thường xuyên khảo sát mức độ hài lòng để điều chỉnh kịp thời.

3.1. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tuyên truyền thuế

Đào tạo cán bộ tuyên truyền thuế cần đi đôi với thực hành. Chương trình đào tạo nên bao gồm kiến thức pháp luật thuế mới, kỹ năng thuyết trình và kỹ năng xử lý tình huống. Tại Cà Mau, cần chú trọng đào tạo cán bộ tại các huyện đảo, vùng nông thôn. Xây dựng đội ngũ cộng tác viên tuyên truyền thuế tại cơ sở. Tổ chức thi đua, khen thưởng cán bộ có thành tích xuất sắc trong phục vụ người nộp thuế. Áp dụng mô hình đánh giá 360 độ để phản hồi năng lực cán bộ. Thường xuyên tổ chức khảo sát ý kiến người nộp thuế về chất lượng phục vụ của từng cán bộ.

3.2. Đa dạng hóa kênh tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế

Kênh tuyên truyền cần phù hợp với đặc thù địa phương. Tại Cà Mau, bên cạnh kênh trực tuyến, cần phát huy kênh truyền thống. Tổ chức hội nghị đối thoại doanh nghiệp định kỳ. Phát sóng chương trình tuyên truyền thuế trên Đài phát thanh truyền hình tỉnh. In ấn tài liệu hướng dẫn bằng hình ảnh minh họa sinh động. Đặt bàn tư vấn thuế tại chợ, trung tâm thương mại. Sử dụng mạng xã hội để lan tỏa thông tin nhanh chóng. Triển khai dịch vụ thuế điện tử toàn diện giúp người nộp thuế giao dịch mọi lúc, mọi nơi. Mỗi kênh cần có nội dung phù hợp đối tượng tiếp nhận.

IV. Kết luận và ứng dụng mô hình đánh giá hài lòng thuế

Nghiên cứu đã hoàn thành mục tiêu đánh giá mức độ hài lòng của người nộp thuế tại Cục Thuế tỉnh Cà Mau. Kết quả xác nhận mô hình SERVQUAL phù hợp để đánh giá chất lượng dịch vụ thuế. Bảy yếu tố nghiên cứu đều có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến sự hài lòng. Trong đó, năng lực phục vụ và sự minh bạch có tác động mạnh nhất. Sự cảm thông và cơ sở vật chất có tác động thấp hơn nhưng vẫn quan trọng. Phát hiện này cung cấp cơ sở khoa học cho việc cải thiện chất lượng phục vụ. Cơ quan thuế các địa phương khác có thể tham khảo mô hình này. Phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính đảm bảo độ tin cậy cao. Hạn chế của nghiên cứu là quy mô mẫu chỉ tập trung tại một tỉnh. Nghiên cứu mở rộng có thể áp dụng trên phạm vi toàn quốc. Tương lai nên tích hợp đánh giá hài lòng vào hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ công.

4.1. Giá trị lý luận của nghiên cứu đánh giá hài lòng thuế

Nghiên cứu đóng góp vào kho tàng kiến thức về quản lý dịch vụ công tại Việt Nam. Mô hình nghiên cứu kế thừa lý thuyết SERVQUAL và điều chỉnh cho phù hợp bối cảnh thuế Việt Nam. Thang đo được kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha đạt yêu cầu. Phân tích nhân tố khám phá và hồi quy tuyến tính bội cho kết quả có ý nghĩa. Nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm từ vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả phù hợp với các nghiên cứu quốc tế về sự hài lòng khách hàng dịch vụ công. Đây là tài liệu tham khảo giá trị cho sinh viên, nhà nghiên cứu và người làm chính sách.

4.2. Giá trị thực tiễn và khuyến nghị áp dụng mô hình

Kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao cho Cục Thuế tỉnh Cà Mau và cơ quan thuế địa phương. Ban lãnh đạo có thể sử dụng kết quả để ưu tiên cải tiến dịch vụ. Tập trung nâng cao năng lực cán bộ và tăng cường minh bạch. Khuyến nghị xây dựng hệ thống đo lường hài lòng định kỳ. Áp dụng mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ thuế vào thực tế quản lý. Đưa chỉ số hài lòng vào tiêu chí thi đua, khen thưởng hàng năm. So sánh kết quả giữa các kỳ để theo dõi tiến bộ. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế về cải cách thủ tục hành chính thuế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp tại cục thuế tỉnh cà mau

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ công và đánh giá sự hài lòng của người nộp thuế đối với dịch vụ công tuyên truyền - hỗ trợ về Thuế. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.

- Chương 5: Kết luận và kiến nghị chính sách để nâng cao sự hài lòng về công tác tuyên truyền - hỗ trợ người nộp thuế. 8 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ CÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƢỜI NỘP THUẾ ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CÔNG TUYÊN TRUYỀN HỖ TRỢ VỀ THUẾ 2. Dịch vụ công 2. Khái niệm dịch vụ công Theo từ điển Le Petit Larousse: "Dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do một cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm".

Theo World Bank (1997), dịch vụ công chủ yếu là hàng hóa và dịch vụ công không thuần khiết mà người tham gia cung cấp có thể là nhà nước và các tổ chức khác như tư nhân, các tổ chức xã hội hay cộng đồng. Sự cung cấp các dịch vụ này rất linh hoạt, tùy thuộc vào nhu cầu người tiêu dùng, không mang tính độc quyền và có thể miễn phí hoặc trả phí. Khi xem xét sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, có một mối quan hệ tích cực giữa niềm tin đối với Chính phủ và sự hài lòng của công chúng với dịch vụ mà Chính phủ cung cấp (Van de Walle, Bouckaert, 2003). Nghiên cứu của Kenneth (2005) đã chứng minh 5 nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công là kết quả thực hiện, thời gian giao dịch, trình độ CBCC, sự công bằng và sự chu đáo.

Bên cạnh đó, chất lượng là một yếu tố then chốt cho việc chuyển đổi dịch vụ và là một động lực tác động đến sự hài lòng của công dân (Rodriguez, 2009). Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII (năm 1999) lần đầu tiên đề cập đến khái niệm “dịch vụ công”. Trong giới khoa học, dù có nhiều cách định nghĩa về dịch vụ công, nhưng nhiều người đã chung quan điểm: “Dịch vụ công là những hoạt động của các tổ chức nhà nước hoặc của các 9 doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được nhà nước uỷ quyền để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp nhu cầu thiết yếu chung của cộng đồng, công dân, theo nguyên tắc không vụ lợi, đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội”. Cách phân loại phổ biến của nhiều người hiện nay là chia dịch vụ công thành dịch vụ công cộng (gồm dịch vụ sự nghiệp công và dịch vụ công ích) và dịch vụ hành chính công.

Qua cách phân loại này, các tác giả khẳng định sự tồn tại của dịch vụ hành chính công ở nước ta và xem dịch vụ hành chính công là một loại dịch vụ công. Trong khi đó “Nhiều nước không sử dụng khái niệm dịch vụ hành chính công mà chỉ sử dụng khái niệm dịch vụ công với nghĩa là tất cả dịch vụ nào thuộc về chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”. Theo tài liệu bồi dưỡng Quản lý hành chính nhà nước ngạch Chuyên viên chính của Học viện hành chính quốc gia, dịch vụ công được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau: - Theo nghĩa rộng, dịch vụ công là những hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng. Theo đó, dịch vụ công là tất cả những hoạt động nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Chính phủ, bao gồm các hoạt động từ ban hành chính sách, pháp luật, an ninh, quốc phòng, cho đến những hoạt động y tế, giáo dục, giao thông công cộng.

- Theo nghĩa hẹp, dịch vụ công được hiểu là những hàng hóa, dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của các tổ chức, công dân mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng. Dịch vụ công có những đặc trưng cơ bản sau: - Là các hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho lợi ích chung, thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân. - Do nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội về việc trực tiếp cung ứng hoặc ủy nhiệm việc cung ứng. Ngay cả khi chuyển giao dịch vụ này cho tư nhân cung ứng thì nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này, khắc phục các khiếm khuyết của thị trường.

10 - Là các hoạt động có tính chất phục vụ trực tiếp, đáp ứng nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân. - Bảo đảm tính công bằng và hiệu quả trong cung cấp dịch vụ. Tùy theo tiêu chí phân loại khác nhau, người ta có thể phân ra thành các loại dịch vụ công khác nhau. Chẳng hạn, nếu phân theo tính chất của dịch vụ thì có các loại dịch vụ sau: dịch vụ hành chính, dịch vụ sự nghiệp công, dịch vụ công ích, dịch vụ pháp lý, dịch vụ thu,.

Căn cứ tính chất phục vụ của dịch vụ công, có thể phân ra hai loại dịch vụ công: (1) Các hoạt động phục vụ các lợi ích chung, thiết yếu của đại đa số hay của cộng đồng, bao gồm cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần. (2) Các hoạt động phục vụ nhu cầu có tính hành chính-pháp lý của các tổ chức và công dân. Nói tóm lại, dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân vì lợi ích chung của xã hội, do Nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư thực hiện) nhằm bảo đảm ổn định và công bằng xã hội. Khái niệm dịch vụ hành chính công: là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanh nghiệp được ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý.

Đây là loại hình dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân. Do vậy, cho đến nay, đối tượng cung ứng duy nhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay các cơ quan nhà nước thành lập được ủy quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính công. Đây là một phần trong chức năng quản lý nhà nước. Để thực hiện chức năng này nhà nước phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch,.

Đặc điểm dịch vụ hành chính công 11 Thứ nhất,việc cung ứng dịch vụ hành chính công luôn gắn với thẩm quyền mang tính quyền lực pháp lý, gắn với các hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc cấp các loại giấy phép, giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân; công chứng, xử lý và xử phạt hành chính, kiểm tra, thanh tra hành chính. Loại dịch vụ này chỉ có thể do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện. Thứ hai, phục vụ cho hoạt động quản lý của Nhà nước. Dịch vụ hành chính công bản thân nó không thuộc về chức năng quản lý nhà nước, song lại là những hoạt động nhằm phục vụ cho chức năng quản lý.

Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ mà nhà nước bắt buộc và khuyến khích người dân phải làm để bảo đảm trật tự và an toàn xã hội. Nhu cầu được cấp các loại giấy tờ trên không xuất phát từ nhu cầu tự thân của họ, mà xuất phát từ những quy định có tính chất bắt buộc của nhà nước. Càng nhiều người sử dụng dịch vụ hành chính công thì càng tạo điều kiện cho hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện tốt hơn. Thứ ba, dịch vụ hành chính công là những hoạt động không vụ lợi, nếu có thu tiền thì thu dưới dạng lệ phí để nộp ngân sách nhà nước.

Lệ phí không mang tính chất bù đắp hao phí lao động cho bản thân người cung cấp dịch vụ, mà chủ yếu là nhằm tạo ra sự công bằng giữa người sử dụng dịch vụ với người không sử dụng dịch vụ. Thứ tư, mọi người dân có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ hành chính công với tư cách là đối tượng phục vụ của chính quyền. Nhà nước có trách nhiệm và nghĩa vụ cung cấp dịch vụ để phục vụ cho mọi người dân, không phân biệt đó là người như thế nào. Chất lƣợng dịch vụ công Sẽ như thế nào nếu hai hoặc nhiều người xa lạ có cùng những quan điểm khi quyết định cái nào là một dịch vụ công chất lượng cao và cái nào thì không? Rõ ràng, chất lượng là một khái niệm phức tạp.

Khi bối cảnh và định hướng chính sách công thay đổi, ý nghĩa của chất lượng cũng thay đổi. Do đó, ông đã tự tin nói rằng không có định nghĩa thống nhất về chất lượng. Thế thì, chất lượng dịch vụ (trong đó có dịch vụ công) càng khó xác định hơn. Chất lượng là một khái niệm đa khía cạnh, nhiều ý nghĩa hơn để định nghĩa dựa trên một loạt các đo lường thay vì chỉ dựa trên một chỉ số duy nhất.

Đối với dịch vụ, những phạm vi chất lượng ảnh hưởng đến quan điểm chất lượng của khách hàng: phương tiện hữu hình, sự tin cậy, khả năng đáp ứng, năng lực phục vụ, thái độ cư xử, sự tín nhiệm, độ an toàn, cách tiếp cận, sự trao đổi thông tin, sự hiểu biết khách hàng (Tony Bovaird và Elke Loffler, 2005). Parasuraman & ctg (1985) định nghĩa chất lượng dịch vụ là “sự đánh giá hay thái độ chung về sự ưu tú toàn diện của dịch vụ”. Vì thế, CLDV là sự khác biệt giữa sự mong đợi với nhận thức về dịch vụ được cung cấp. Dựa trên những đặc trưng cơ bản của dịch vụ công và những điều nêu trên, chất lượng dịch vụ công có thể xem là thái độ chung của các tổ chức và công dân đối với các hoạt động phục vụ lợi ích chung thiết yếu, quyền và nghĩa vụ cơ bản của họ do Nhà nước đảm nhận hay ủy nhiệm cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện.

Sản phẩm dịch vụ nói chung, dịch vụ công nói riêng có tính vô hình, rất khó để đánh giá.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ