CHƯƠNG 1 Tại chương này, tác giả đã khái quát được vấn đề mà tác giả quan tâm và tính cấp thiết của nó để tác giả quyết định chọn làm vấn đề để nghiên cứu. Đồng thời tác giả cũng đã xác định được các mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu tổng quát và ý nghĩa của đề tài này với thực tiễn. Từ đó tác giả đưa ra được bố cụ dự kiến của khóa luận và xác định những vấn đề cụ thể cần được giải quyết và định hướng cho các chương sau. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng – lý thuyết về chất lượng dịch vụ 2. Lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng Sự hài lòng của khách hàng tuỳ thuộc vào năng suất thực hiện mà người ta cảm được từ một sản phẩm khi nó cung cấp giá trị so với kỳ vọng người mua. Nếu khả năng thực hiện của sản phẩm kém hơn kỳ vọng của người mua, người mua sẽ thất vọng. Nếu khả năng thực hiện của nó khớp với kỳ vọng của người mua, người mua sẽ hài lòng.
Nếu khả năng thực hiện của nó còn nhiều hơn cả kỳ vọng người mua, người mua sẽ phấn khích. Mục tiêu của các doanh nghiệp kinh doanh là phải làm hài lòng khách hàng vì họ là nguồn thu chính cho doanh nghiệp. Khi khách hàng hài lòng thì xác suất trở lại mua hàng rất cao (Kivela và cộng sự, 1999). Theo Mattila (2001) đối với hành vi sau khi mua hàng của khách hàng, lòng trung thành có thể được đo bằng cách sử dụng lời nói tích cực.
Trong ngành dịch vụ, khi khách hàng cảm nhận mức giá trị cao từ trải nghiệm tiêu thụ, họ có xu hướng thể hiện hành vi tích cực, và truyền miệng là hình thức mạnh nhất. Sở dĩ vậy là khi khách hàng tìm kiếm thông tin thì thông tin chia sẻ của bên thứ 3 là đáng tin cậy hơn. Nghiên cứu của Swan và Oliver (1989) đề xuất rằng phản ứng cảm xúc đối với trải nghiệm tiêu dùng kết quả chính là truyền miệng. Khi khách hàng trải nghiệm ăn uống làm họ hài lòng thì khả năng họ sẽ truyền bá thông tin một cách tích cực.
Sự sẵn sàng chia sẻ thông tin cũng là một ý định hành vi tích cực bắt nguồn từ giá trị cảm nhận của trải nghiệm tiêu dùng (Bowen và Shoemaker, 2003). Lý thuyết về chất lượng dịch vụ Khái niệm dịch vụ đã được đưa ra bàn luận nhiều và được định nghĩa khác nhau tùy vào đối tượng và môi trường nghiên cứu. Ví dụ theo Kotler và Armstrong định nghĩa rằng một bên có thể cung cấp bất kỳ hành động hay lợi ích nào cho bên kia mà cơ bản là không tồn tại sự sở hữu nào. Palacio và Theis (2009) cho rằng dịch vụ là một khía cạnh vô hình của trải nghiệm ăn uống.
Chất lượng dịch vụ được nhận định là yếu tố cốt lõi quyết định đến sự hài lòng của khách hàng (Cronin và Taylor, 1992). Theo 9 Kivela và cộng sự (1999, 2000) cũng đề xuất rằng mô hình toàn diện cho sự hài lòng về ăn uống và sự trở lại của khách hàng trong nghiên cứu của họ cho thấy xác suất trở lại của khách hàng phụ thuộc vào sự hài lòng của khách hàng với 5 yếu tố: ấn tượng đầu tiên và cuối cùng, chất lượng dịch vụ, chất lượng ản phẩm, chất lượng môi trường và cảm giác thoải mái. Trong một số nghiên cứu chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ quan trọng hơn chất lượng ản phẩm trong sự thỏa mãn. Rất nhiều nhà nghiên cứu về chất lượng dịch vụ nhưng không thể bỏ qua Parasuraman và cộng sự (1985, 1988, 1991), là những người có những đóng góp rất lớn.
Các nhà nghiên cứu này đã cho ra đời thang đo các thành phần của chất lượng dịch vụ (thang đo SERVQUAL). Thang đo này đã được áp dụng thành công rất nhiều lĩnh vực dịch vụ với sự điều chỉnh phù hợp với từng loại hình dịch vụ khác nhau. Theo mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL, chất lượng dịch vụ dựa trên khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng về dịch vụ và sự cảm nhận thực tế khách hàng nhận được sau khi tiêu dùng sản phẩm. Khoảng cách này được thể hiện qua 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ (Parasuman và cộng sự, 1985).Với mô hình này có sự chênh lệch khoảng cách giữa sự kỳ vọng khách hàng về chất lượng dịch vụ và sự cảm nhận về dịch vụ đó, khoảng cách đó là khoảng cách 5 (bao gồm 4 khoảng cách còn lại).
Cụ thể: Khoảng cách 1: Chênh lệch giữa kỳ vọng của khách hàng và nhận thức của nhà quản lý về sự kỳ vọng đó. Khoảng cách 2: Từ nhận thức của nhà quản lý về sự kỳ vọng của khách hàng mà truyền đạt đúng hoặc sai để hình thành nên tiêu chí chất lượng. Khoảng cách 3: Bộ phận dịch vụ chuyển giao không đúng tiêu chí chất lượng đã được xác định. Khoảng cách 4: Sự giới thiệu, quảng cáo dịch vụ tới khách hàng chưa chính xác so với lượng thông tin cung cấp cho khách hàng.
Khoảng cách 5 = Khoảng cách 1 + Khoảng cách 2 + Khoảng cách 3 + Khoảng cách 4. Mô hình 5 khoảng cách về chất lượng dịch vụ Nguồn: Parasuman và cộng sự (1985) Parasuraman và các cộng sự (1985) đã xây dựng nên mười thành phần dựa trên cảm nhận của khách hàng. Mô hình SERVQUAL có thể bao quát hết mọi khía cạnh của các loại hình dịch vụ, nhưng nó quá phức tạp cho việc đo lường, đánh giá và phân tích. Vì vậy Parasuraman và các cộng sự (1991) đã cho ra thang đo cuối cùng để đánh giá chất lượng dịch vụ, bao gồm 5 thành phần: (1) độ tin cậy (reliability), (2) tính đáp ứng (responsiveness), (3) tính đảm bảo (assurance), (4) phương tiện hữu hình (tangibles) và (5) sự đồng cảm (emphathy).
Do đó, tác giả áp dụng mô hình SERVQUAL một cách thận trọng vì sẽ có sự điều chỉnh các biến để đánh giá chính xác chất lượng dịch vụ vay vốn cá nhân tại Vietinbank KCN Trảng Bàng. Các thành phần của chất lượng dịch vụ: Thang đo SERVQUAL được áp dụng để đo lường chất lượng dịch vụ. Bao gồm 5 thành phần được trình bày phía trên (Parasuraman và cộng sự, 1991): độ tin cậy (khả năng thực hiện dịch vụ đã được hứa hẹn một cách chính xác và đáng tin cậy), tính đáp ứng (sẵn sàng giúp đỡ khách hàng và cung ứng dịch vụ nhanh chóng), tính đảm bảo (năng lực và thái độ phục vụ của nhân viên để truyền đạt niềm tin và sự tự tin), phương tiện hữu hình (các phương tiện, cơ sở vật chất, trang thiết bị và sự có mặt của nhân viên) và sự đồng cảm (sự quan tâm, 11 chăm sóc mà công ty cung cấp cho khách hàng của mình). Đồng thời các thành phần này cũng quyết định đến sự hài lòng của khách hàng với chất lượng dịch vụ.
Độ tin cậy đề cập đến khả năng cung cấp dịch vụ một cách chính xác và đáng tin cậy, một cách tổng quát nhất, độ tin cậy được hiểu là doanh nghiệp đem lại lời hứa hẹn về cung cấp dịch vụ, định giá, phân phối và giải quyết vấn đề (Lee và Johnson, 1997; Wilson và cộng sự, 2012). Độ tin cậy được đặc trưng bởi sự tuân thủ các yêu cầu của khách hàng về việc chuẩn bị tư vấn sản phẩm, dịch vụ và thanh toán chính xác. Tính đáp ứng đề cập đến sự sẵn sàng của các doanh nghiệp trong việc cung cấp dịch vụ nhanh chóng và giúp đỡ khách hàng. Theo Lee và Johnson (1997) và Wilson và cộng sự (2012), tính đáp ứng này nhấn mạnh sự chú tâm và sự nhanh chóng trong việc giải đáp các câu hỏi, thắc mắc, yêu cầu và khiếu nại của khách hàng.
Qua đó thấy rằng chất lượng dịch vụ có thể được cải thiện tăng lên thông qua sự phản hồi cho khách hàng. Tính đảm bảo liên quan đến kiến thức và lịch sự của nhân viên cũng như khả năng truyền tải niềm tin và sự tin tưởng của họ. Sự đảm bảo được khách hàng quen cảm nhận thông qua họ tin tưởng các đề xuất của nhân viên phục vụ, cảm thấy an toàn với chất lượng sản phẩm và không phải lo lắng về việc bị xúc phạm và phân biệt đối xử. Phương tiện hữu hình liên quan đến cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân sự của cơ sở.
Vì vậy, phương tiện hữu hình thể hiện qua cơ sở vật chất của doanh nghiệp (bàn ghế, các dụng cụ để phục vụ khách hàng,.), công cụ kỹ thuật và nhân viên phục vụ theo Lee và Johnson (1997) và Wilson, Zeithaml, Bitner và Gremler (2012). Sự đồng cảm là sự quan tâm, chăm sóc cá nhân mà các nhà cung cấp dịch vụ dành cho khách hàng của mình. Khách hàng luôn muốn các nhà cung cấp dịch vụ thấy được bản thân họ quan trọng và muốn được hiểu. Nhân viên trong phục vụ phải luôn tỏ ra quan tâm chăm sóc khách hàng bằng cách chào bằng tên, hiểu rõ yêu cầu, thói quen, sở thích của họ và phải thấu hiểu, cảm thông cho vấn đề họ gặp phải (Wilson và cộng sự, 2012).
Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng 12 Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng là chủ đề đã được bàn luận rất nhiều bởi các nhà nghiên cứu. Một số nghiên cứu cho rằng chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có điểm chung và chúng có thể sử dụng thay thế cho nhau. Parasuraman và cộng sự (1988) cho rằng chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng là hai khái niệm khác nhau nhưng chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nghiên cứu của Cronin và Taylor (1992) chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ là nguyên nhân dẫn đến sự hài lòng của khách hàng.
Sự hài lòng của khách hàng được xem là kết quả và được đánh giá sau khi sử dụng dịch vụ. Còn chất lượng dịch vụ được xem là nguyên nhân và chỉ tập trung vào các thành phần cụ thể của dịch vụ. Các nghiên cứu đã kết luận rằng chất lượng dịch vụ là tiền đề của sự hài lòng khách hàng (Cronin và Taylor, 1992; Spreng và Mackoy, 1996) và là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng (De Ruyter và cộng sự, 1997). Vì vậy các doanh nghiệp, cửa hàng phải đem đến chất lượng dịch vụ tốt nhất cho khách hàng để làm tăng sự hài lòng của khách hàng.