CHƯƠNG 1 Từ tính cấp thiết của đề tài với những mục tiêu đặt ra tác giả sẽ dựa vào số liệu thu thập được trong thực tế tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng bằng phương pháp phân tích và các mô hình kinh tế lượng nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của NH TMCP trong khoảng thời gian nghiên cứu. Thông qua đó, bài luận văn đưa ra các giải pháp cho NH TMCP tham khảo. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm về khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Ngân hàng là trung gian tài chính quan trọng nhất ở hầu hết các nền kinh tế, cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau. Hiệu quả của trung gian tài chính cũng có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, các ngân hàng mất khả năng thanh toán có thể dẫn đến khủng hoảng toàn hệ thống. Các nền kinh tế có khu vực ngân hàng sinh lời có khả năng chống chọi tốt hơn với các cú sốc tiêu cực và góp phần vào sự ổn định của hệ thống tài chính (Athanasoglou và cộng sự, 2005).
Một hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả là chìa khóa cho sự phát triển kinh tế xã hội ở mọi quốc gia và không thể phủ nhận vai trò to lớn của các ngân hàng với tư cách là trung gian tài chính. Trước thực tế này, việc phân tích lợi nhuận và hiệu quả của hệ thống ngân hàng đã thu hút rất nhiều sự chú ý ở cả các nền kinh tế phát triển và đang phát triển trên thế giới (Topak và Talu, 2016). Tầm quan trọng của khả năng sinh lời ngân hàng có thể được đánh giá ở cấp độ vi mô và vĩ mô của nền kinh tế. Ở cấp độ vi mô, lợi nhuận là điều kiện thiết yếu mà một tổ chức ngân hàng dùng để cạnh tranh và là nguồn vốn rẻ nhất.
Nó không chỉ đơn thuần là kết quả kinh doanh mà còn là điều cần thiết để hoạt động ngân hàng thành công trong thời kỳ cạnh tranh trên thị trường tài chính ngày càng lớn. Do đó, mục tiêu cơ bản của việc quản lý ngân hàng là đạt được lợi nhuận, đây là yêu cầu thiết yếu để tiến hành bất kỳ hoạt động kinh doanh nào (Bobakova, 2003). Ngoài ra, ở cấp độ vĩ mô, một hệ thống ngân hàng hoạt động và có lợi nhuận tốt hơn có thể chống lại các cú sốc kinh tế tiêu cực và góp phần vào sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia. Tầm quan trọng của lợi nhuận ngân hàng ở cả cấp vi mô và vĩ mô đã khiến các nhà nghiên cứu, học giả, quản lý ngân hàng và cơ quan quản lý ngân hàng quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng (Athanasoglou và cộng sự, 2005).
7 Nguyễn Văn Ngọc“(2012) định nghĩa khả năng sinh lời hay tỷ suất lợi nhuận là khái niệm phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và quy mô doanh nghiệp. Thông thường, khả năng sinh lời được tính bằng cách lấy lợi nhuận chia cho tổng tài sản sử dụng, khối lượng tư bản dài hạn hoặc số người lao động. Khả năng sinh lời cho chúng ta biết hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.” Theo Daft (2008) hiệu quả hoạt động là khả năng biến đổi các yếu tố đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với đối với đối thủ cạnh tranh. Vậy hiệu quả hoạt động có thể hiểu là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực (vốn, nhân lực.) để đạt được mục tiêu xác định.
Nó phản ánh những lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh trên cơ sở so sánh kết quả thu được với chi phí bỏ ra để đạt mục tiêu đó. Và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại là yếu tố đánh giá hiệu quả hoạt động, thể hiện việc ngân hàng có thể đạt được một tỷ lệ thu nhập từ số tiền đầu tư của ban đầu trong một khoảng thời gian tham chiếu nhất định hay không. Theo European Central Bank (2011) khả năng sinh lời là nguồn đầu tiên giúp ngân hàng chống lại những khoản lỗ bất ngờ, vì khả năng sinh lời giúp tăng cường vị thế vốn và cải thiện khả năng sinh lời trong tương lai thông qua đầu tư từ các khoản lợi nhuận giữ lại. Nói trên góc độ chỉ số định lượng hẹp thì khả năng sinh lời xem như tương đồng với hiệu quả hoạt động.
Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Hiệu quả sinh lời của các ngân hàng thương mại đã là chủ đề lớn được thảo luận trong các nghiên cứu trước đó. Khủng hoảng tài chính gần đây đã chứng minh tầm quan trọng của lĩnh vực ngân hàng đối với nền kinh tế. Athanasoglou và cộng sự (2005) chỉ ra sự ổn định của hệ thống tài chính là phụ thuộc vào lợi nhuận lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là trong các thời kỳ khó khăn, suy thoái. Vì vậy, có nhiều bên liên quan (Viện nghiên cứu, các nhà đầu tư…) quan tâm đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.
Hầu hết các tác giả sử dụng cùng các chỉ số để đo lường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng đó là lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Adefeya và cộng sự 8 (2015) định nghĩa ROA là một thước đo bằng cách sử dụng tài sản của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận. ROE là lợi nhuận của các cổ đông có được trên số vốn chủ sở hữu được đầu tư vào ngân hàng (Adefeya và cộng sự, 2015). Nó đã cho thấy rằng tỷ lệ ROA cao hơn nếu ngân hàng có cơ cấu vốn chủ sở hữu cao hơn (đòn bẩy thấp).
Mặt khác, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) thấp đồng nghĩa với cấu trúc nợ của ngân hàng chưa hợp lý và tối ưu. Điều này có thể được giải thích bởi ROE không tham gia vào đánh giá mối quan hệ giữa các rủi ro liên quan và đòn bẩy tài chính. Do đó ROA được coi là chỉ số thông thường nhất để đo lường lợi nhuận ngân hàng (IMF, 2002). Hassan và Bashir (2003) nói rằng ROA được ưa thích bởi hầu hết các cơ quan quản lý.
Theo Athanasoglou và cộng sự (2006); Alexiou và Sofoklis (2009) thì tỷ lệ thu nhập lãi biên ròng (NIM) cũng là một trong những chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của“NHTM thông qua việc phản ánh năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu từ các khoản cho vay, đầu tư và phí dịch vụ) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi trả lãi tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ, tiền lương nhân viên và phúc lợi). Tỷ lệ thu nhập lãi biên ròng đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp. Lý thuyết về khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 2. Lý thuyết quyền lực thị trường (Market Power) “Lý thuyết này có hai hướng tiếp cận chính đó là cấu trúc (Structure) - hành vi (Conduct) - hiệu quả (Performance) và lý thuyết quyền lực thị trường tương đối.
Lý thuyết cấu trúc (Structure) - hành vi (Conduct) - hiệu quả (Performance) (SCP) cho rằng cấu trúc của thị trường quyết định đến hành vi của doanh nghiệp và hành vi này quyết định đến hiệu quả thị trường bao gồm khả năng sinh lời (ROA, ROE, ROS.), tiến bộ khoa học kỹ thuật và tăng trưởng của doanh nghiệp. Theo Bain (1951), lý thuyết này còn cho rằng nhiều ngành nghề có sự tập trung cao sẽ góp phần tạo ra những hành vi của doanh nghiệp, nhà quản lý dẫn đến kết quả kinh doanh nghèo nàn, làm giảm sản lượng (doanh thu) và 9 hình thành giá cả độc quyền. Theo SCP thì thị trường ngân hàng càng tập trung thì sẽ gia tăng lãi suất cho vay ngày càng cao và lãi suất huy động sẽ giảm đi vì mức độ cạnh tranh trên thị trường sẽ giảm đi. Trong khi đó lý thuyết quyền lực thị trường tương đối (Relative Market Power - RMP) cho rằng các doanh nghiệp có thị phần lớn và có các sản phẩm, dịch vụ riêng biệt có thể thực hiện quyền lực thị trường và gia tăng lợi nhuận không cạnh tranh (Berger, 1995).
Có thể dễ dàng thấy rằng một số ngân hàng lớn với ưu thế thương hiệu và chất lượng sản phẩm cao có thể tăng gia sản phẩm, dịch vụ và kiếm được lợi nhuận cao hơn. Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (Efficiency Structure) Khác với lý thuyết quyền lực thị trường, lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES) nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa cấu trúc thị trường và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp hoặc có thể hiểu hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có thể tạo nên cấu trúc của thị trường. Theo Olwenly và Shipho (2011), có thể thấy các ngân hàng thương mại hoạt động hiệu quả hơn thì có lợi nhuận cao hơn. Lý thuyết này thường được đề xuất theo hai hướng tiếp cận khác nhau và phụ thuộc vào loại hiệu quả mà chúng xem xét.
Đối với hướng tiếp cận hiệu quả X (X-efficience) thì các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn thì có lợi nhuận cao hơn, nguyên nhân là do họ có khả năng giảm thiểu, tối ưu chi phí sản xuất kinh doanh ở bất kỳ điều kiện nào (Al-Muharrami và Matthews, 2009). Cũng theo Olwenly và Shipho (2011) hướng tiếp cận hiệu quả quy mô (Scale-efficience) khẳng định rằng các doanh nghiệp lớn hơn thì có chi phí sản xuất kinh doanh thấp hơn doanh nghiệp nhỏ, do đó có lợi nhuận cao hơn nhờ vào tính kinh tế theo quy mô. Lý thuyết danh mục đầu tư cân bằng Lý thuyết danh mục đầu tư cân bằng cung cấp cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn so với hai lý thuyết nêu trên đối với việc nghiên cứu lợi nhuận và khả năng sinh lời của doanh nghiệp (Nzongang và Atemkengn, 2006). Nội dung chủ yếu của lý thuyết này là nhà đầu tư có thể tối thiểu hóa rủi ro của thị trường đối với một mức lợi nhuận kỳ vọng nào đó thông qua việc tạo ra và quản lý danh mục mà họ quyết định đầu tư đa dạng hóa.