Chương 1: Giới thiệu Trong chương này, tác giả cho biết lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, những điểm mới và đóng góp của luận văn, ý nghĩa của luận, phương pháp nghiên cứu và kết cấu nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước 5 Trong chương này, tác giả trình bày khái niệm, lý thuyết nền của nghiên cứu, tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến luận văn làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày giả thuyết nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chương này, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu bao gồm: phân tích thống kê mô tả, kiểm định phân phối chuẩn và ma trận tương quan, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL của QTDND trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2016 - 2021và thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Trong chương này, tác giả trình bày kết luận, hàm ý quản trị, hạn chế nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Một số khái niệm 2.1 Khái niệm quỹ tín dụng nhân dân Dựa vào nội dung có trong Khoản 6 Điều 4 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 cho thấy: “QTDND được biết tới như một tổ chức tín dụng do các cá nhân và hộ gia đình tạo ra theo phương thức HTX nhằm tiến hành những hoạt động NH đúng với nội dung có trong Luật này và Luật HTX để hỗ trợ nhau cùng phát triển SXKD và trong đời sống hằng ngày”. Ngoài ra, căn cứ Điều 76 Luật Các tổ chức tín dụng, “vốn điều lệ của QTDND là tất cả số vốn mà các thành viên đã góp lại và có đầy đủ trong điều lệ. Do đó, QTDND được kiểm soát bởi đoàn thể, bao gồm những thành viên vay vốn và gửi tiết kiệm đồng thời là người sở hữu sở hữu tổ chức đó”.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 3 Luật hợp tác xã năm 2012 thì: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 7 thành viên tự nguyện thành lập và hỗ trợ qua lại trong quá trình SXKD, tạo thêm nhiều việc làm để phục vụ tốt nhu cầu của các thành viên trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý liên hiệp hơn tác xã”. Từ những khái niệm trên, QTDND hoạt động dưới hình thức hợp tác xã nên việc thành lập QTDND không bị pháp luật cấm. Do đó, trong một xã có thể thành lập thêm một QTDND.3 Loại hình quỹ tín dụng nhân dân QTDND thuộc loại hình tổ chức kinh tế tập thể, hoạt động theo nguyên tắc tự bù đấp chỉ phí để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo giấy phép, chủ yếu trong phạm ví các thành viên. Quỹ hoạt động thường dưới sự bảo trợ của ngân hàng nhà nước, lãi suất tiền gửi và cho vay thường là linh hoạt, thực chất là các thành viên cùng góp vốn để kinh doanh tiền tệ.
Các QTDND và những pháp nhân đã góp vốn cùng nhau theo đúng Luật các TCTD năm 2010 để kết hợp hệ thống, giúp đỡ về mặt tài chính, đảm bảo đủ nguồn 7 vốn cho hệ thống các QTDND thì TCTD gọi là QTDND Trung Ương, ngày nay đã đổi thành Ngân Hàng HTX VN, tên viết tắt tiếng việt là NHHTX, tiếng anh là Co- operative Bank Of VN, tên viết tắt tiếng anh là CoopBank Từ thế kỉ XVII – XVIII quỹ tín dụng đã ra đời và phát triển mạnh. Nó thường là HTX tín dụng kết hợp cùng đơn vị sản xuất hàng hóa nhỏ, lẻ để hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi.700 QTDND được thành lập theo hình thức HTX và đều phá sản. Tới năm 1993, tiến hành thí điểm QTDND, qua đến năm 1996 đã có 847 QTDND đạt số vốn 700 tỉ đồng, đây là cơ sở giúp thiết lập hệ thống kinh doanh tiền tệ lành mạnh, ngăn chặn tình trạng cho vay nặng lãi, tạo ra một thị trường vốn, đưa hoạt động SXNN và phát triển nông thôn ngày càng đi lên.4 Vai trò của quỹ tín dụng nhân dân Tạo ra nền kinh tế ổn định, tạo ra thặng dư trong hộ gia đình và doanh nghiệp bằng việc xây dựng ý thức trách nhiệm của người dân để họ sử dụng những lợi nhuận kinh tế này vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng theo các nhu cầu ưu tiên. Ngoài ra, quỹ tín dụng còn cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp vi mô và kinh doanh nhỏ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương.
Các hoạt động tập thể này tạo ra sự thịnh vượng (việc làm và các dịch vụ) cho cộng đồng, trong nhiều trường hợp, là nguồn tạo thu nhập để cho phép đáp ứng các nhu cầu cơ bản, như lương thực, y tế và giáo dục cho các cộng đồng dân cư nói trên. Những đối tượng như người nghèo, người bị thiệt thòi, đặc biệt là phụ nữ được xác định như là nhóm chiến lược trong việc phát triển mô hình QTDND; việc phát triển nhóm này nên được thúc đẩy như một phần của chiến lược xóa đói giảm nghèo. Từ khi hoạt động theo hình thức tương trợ, các hợp tác xã tài chính nhanh chóng phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng của mình và là đòn bẩy có ý nghĩa cho việc phát triển tài sản tập thể và kinh tế xã hội địa phương. Do đó, vai trò của các hợp tác xã là tạo ra các dịch vụ tài chính có sẵn, cho phép tạo ra thặng dư trong hộ gia đình và doanh nghiệp bằng việc xây dựng ý thức trách nhiệm của những người dân là những người sẽ tái đầu tư những thặng dư này vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng theo các nhu cầu ưu tiên của họ.
8 Trên thực tế, việc tiếp cận tín dụng là một phương tiện hiệu quả cho phép những cộng đồng dân cư trong đó đặc biệt là người nghèo huy động được tiềm năng tập thể của họ. Các hoạt động tập thể này tạo ra việc làm và các dịch vụ phục vụ cho cộng đồng, trong nhiều trường hợp, là nguồn tạo thu nhập để cho phép đáp ứng các nhu cầu cơ bản, như lương thực, y tế và giáo dục cho các cộng đồng dân cư nói trên. Những đối tượng như người nghèo, người bị thiệt thòi, người có công với đất nước, phụ nữ được xác định như là nhóm chiến lược trong việc phát triển mô hình QTDND. Việc phát triển nhóm chiến lược này nên được thúc đẩy như một phần của chiến lược xóa đói giảm nghèo.
Chính vì thế, các QTDND chính là loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) có vai trò tích cực trong việc huy động nguồn lực tài chính của địa phương đồng thời có vị thế tốt nhất để đáp ứng cơ sở hiện tại và tương lai về các nhu cầu đa dạng (tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm) của các nhóm khách hàng nói trên.5 Khả năng sinh lời kinh doanh của quỹ tín dụng nhân dân Theo Nguyễn Minh Kiều (2009) thì “KNSL của QTDND là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực: kinh tế, kỹ thuật, xã hội. Ở mỗi góc độ và lĩnh vực khác nhau, hiệu quả kinh doanh được nhìn nhận theo một cách khác nhau, khái niệm của nó vẫn chưa được thống nhất, QTDND cho thấy hiệu quả kinh doanh được thể hiện dưới góc độ: của QTDND, KH và tình hình KT-XH. Theo đó, hiệu quả kinh doanh được xác định thông qua quá trình áp dụng những nhân tố đầu vào (NNL, tài lực, vật lực) tốt nhất nhằm có được nhân tố đầu ra chất lượng và tăng năng lực cạnh tranh. Về phía KH, hiệu quả kinh doanh được xác định thông qua chất lượng SPDV của QTDND đã đưa ra thị trường.
Còn hiệu quả kinh doanh của tình hình KT-XH được thể hiện dựa vào mối quan hệ tăng trưởng tín dụng của QTDND với phát triển KT-XH”. Theo Trầm Thị Xuân Hương (2010) thì “KNSL của các QTDND được đo lường một cách tổng quát qua các chỉ số: tỷ lệ giữa lợi nhuận/tổng tài sản và tỷ lệ lợi nhuận/vốn chủ sở hữu. Lợi nhuận phản ánh KNSL của QTDND, lợi nhuận được quyết định bởi khoản lãi thu được từ hoạt động cho vay và đầu tư, bởi nguồn thu từ các hoạt 9 động dịch vụ, quy mô, chất lượng và thành phần của các tài sản có. Vì vậy có thể thấy lợi nhuận là chỉ tiêu tài chính tốt nhất để đánh giá KNSL kinh doanh của QTDND”.
Như vậy, KNSL của các QTDND nó quyết định chính và trực tiếp tới sự phát triển và tồn tại của QTDND. Một QTDND hoạt động có hiệu quả thì uy tín của QTDND đó càng tăng cao, KH sẽ càng tin tưởng và yên tâm khi sử dụng các sản phẩm/dịch vụ của QTDND đó. Ngược lại nếu NHTM hoạt động kém hiệu quả thì KH sẽ không tin tưởng và không sử dụng các sản phẩm/dịch vụ của QTDND. Kéo theo đó chính là lợi ích về huy động vốn cho QTDND cũng tăng lên, điều này giúp QTDND có thêm doanh thu và lợi nhuận.
Mặt khác nhân sự của những QTDND khác cũng có thêm thu nhập và tăng KNSL của QTDND. Thực tế cho thấy, hầu hết những nghiên cứu trước đó đều áp dụng KNSL kinh doanh của QTDND với tỷ suất sinh lời thường sử dụng là NIM.2 Tổng quan nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các tổ chức tín dụng Đề tài sẽ ứng dụng kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL của NHTM, các TCTD, các QTDND để áp dụng cho QTDND - một tổ chức tín dụng mang những điểm tương đồng về hoạt động, về rủi ro tương tự như các NHTM về chức năng huy động vốn và cho vay. Quỹ TDND cũng có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ nhưng TCTD, NHTM. Tuy nhiên về quy mô nhỏ hơn NHTM, TCTD.1 Các nghiên cứu nước ngoài Rahmanullah Rasa (2021) thực hiện đề tài nghiên cứu về tác động của RRTD tới KNSL của các NHTM ở Afghanistan”.
Nghiên cứu tiến hành nhằm xác định tác động của RRTD đến KNSL của các NHTM ở Afghanistan. Do sự sẵn có của dữ liệu, của sáu ngân hàng thương mại tư nhân trong nước trong giai đoạn 2014-2018. Nghiên cứu sử dụng LLRTL, TLTA và TLTD làm chỉ số RRTD, quy mô là yếu tố quyết định theo ngân hàng cụ thể, ROAA, ROAE và NIM làm chỉ số sinh lời.