Chương 1 giới thiệu vấn đề nghiên cứu đã trình bày ở trên. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết trình bày lý thuyết mô hình kinh tế và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Chương 3 trình bày tổng quan hệ thống y tế ở Việt Nam, phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu. Chương 4 trình bày thống kê mô tả các biến, kết quả mô hình hồi quy, và kiểm định .Chương cuối cùng là kết luận và kiến nghị.
4 Chương 2: Cơ sở lý luận Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về hành vi lựa chọn của cá nhân. Tiếp đến là mô hình vận dụng để phân tích. Sau cùng là tóm tắt một số nghiên cứu thực nghiệm.1 Mô hình lý thuyết Khái niệm: Hữu dụng là sự thỏa mãn mà một người cảm nhận khi tiêu dùng một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó, hữu dụng mang tính chủ quan. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe là một hàm bắt nguồn từ nhu cầu về sức khỏe và mô hình hóa như một quyết định để được chăm sóc và quyết định nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Lợi ích có được từ chăm sóc y tế là sức khỏe nhận được từ hiệu quả của việc chăm sóc y tế (dự kiến). Lý thuyết giả định rằng các cá nhân có thể xếp hạng ưu tiên và có thể lựa chọn một sự kết hợp hàng hóa và dịch vụ để tối đa hóa hữu dụng của họ (trong trường hợp này, sự kết hợp giữa y tế (chăm sóc y tế) và tiêu thụ hàng hóa khác của họ.) Hữu dụng tiêu dùng dịch vụ y tế là hàm số phụ thuộc vào sức khỏe sau khi nhận dịch vụ y tế và chi tiêu các hàng hóa khác Uij = U ( hij, Cj) (2.1) Cá nhân i phải đối mặt với lựa chọn thay thế j, trong đó j ∈ n, n = {1,2, ., N} Với Uij : hữu dụng của cá nhân với lựa chọn cơ sở y tế j hij: sức khỏe của cá nhân sau khi lựa chọn cơ sở y tế j Cij: Chi tiêu khác sau lựa chọn cơ sở y tế j Tình trạng sức khỏe sau khi đến cơ sở y tế sẽ phụ thuộc vào chất lượng điều trị của cơ sở j với cá nhân i: hij = h0 + Qij (2.2) 5 h0: Sức khỏe của cá nhân khi chưa được điều trị Chất lượng của việc điều trị khác nhau giữa các lựa chọn và cũng khác nhau giữa các cá nhân. Vì vậy chất lượng có thể là hàm số phụ thuộc vào các thuộc tính của cá nhân và các thuộc tính của cơ sở y tế.3) Xi: Các thuộc tính của cá nhân i Zj: Các thuộc tính của cơ sở y tế j Mức chi tiêu khác của cá nhân sau khi trả tiền cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe là khoản thu nhập còn lại sau khi chi trả cho lựa chọn cơ sở y tế j. Mức giá của lựa chọn j là các khoản thanh toán để có được chăm sóc từ cơ sở j bao gồm cả chi phí trực tiếp điều trị như chi phí khám bệnh, mua thuốc và chi phí gián tiếp như đi lại và thời gian chờ đợi.
Cj = Yi - Pij (2.4) Với Yi : Thu nhập của cá nhân Pij: : mức giá cá nhân trả cho lựa chọn cơ sở y tế j Giả định cá nhân có j lựa chọn thay thế, và cá nhân luôn muốn tối đa hóa hữu dụng thì: U* = max ( U1,…,Uj) U* : hữu dụng tối đa. U1,…,Uj: hữu dụng cá nhân nhận được với các lựa chọn 1,…,j Từ (2.5) 6 Các nhà nghiên cứu không quan sát được hữu dụng của người quyết định mà chỉ quan sát được một số thuộc tính của các lựa chọn thay thế mà người quyết định phải đối mặt, và một số thuộc tính của người ra quyết định (Train, 2009). Vì vậy hàm hữu dụng của cá nhân: Uij = Vij + εij (2.6) Vij : hữu dụng đại diện cho các yếu tố quan sát được. εij : hữu dụng của các yếu tố không quan sát được Thuộc tính quan sát được của cá nhân có thể ảnh hưởng đến lựa chọn cuối cùng có thể là giới tính, tuổi tác, giáo dục, thu nhập, bảo hiểm … ; Các thuộc tính không quan sát được có thể là nhận thức về chất lượng và dịch vụ của cơ sở y tế, ưu đãi đối với một số thủ tục y tế.
Thuộc tính quan sát được của các cơ sở y tế có thể là mức giá của các cơ sở y tế, khoảng cách từ người bệnh đến các cơ sở y tế trong khi đặc tính không quan sát được sẽ bao gồm uy tín, danh tiếng của cơ sở y tế, mức độ sạch sẽ của các cơ sở y tế,… Từ (2.6) có được : Uij =V(Pij,Zj,Xi,Yi) + εij (2.7) Phương trình (2.7) được viết lại dưới dạng tham số ước lượng như sau: Uij = βzZj +βxjXi + εij (2.8) Với βz và βxj là các tham số ước lượng. Các nghiên cứu về lựa chọn chăm sóc sức khỏe thường sử dụng mô hình Multinominal logit model (MNL) để ước lượng mô hình logit với nhiều hơn hai lựa chọn. Tuy nhiên, có hai mô hình khác nhau cùng được gọi là MNL. Multinominal logit model Uij = βxjXi + εij (2.9) 7 Xi : Các thuộc tính của cá nhân, hộ gia đình.
Với j lựa chọn, kết quả ước lượng mô hình (2.9) sẽ có j hệ số beta ứng với số phương án lựa chọn j cho một biến đặc tính của cá nhân, hộ gia đình. Mô hình MNL chỉ bao gồm các đặc tính của cá nhân, hộ gia đình. Các cá nhân có đặc tính khác nhau sẽ có hữu dụng khác nhau với cùng một phương án lựa chọn. Random utility model/Multinominal logit model Uij = βzZj + εij (2.10) Zj : Các thuộc tính của cơ sở y tế.
Với j lựa chọn, kết quả ước lượng mô hình (2.10) sẽ có duy nhất một hệ số beta cho tất cả các phương án lựa chọn. Mô hình MNL này dựa trên mô hình hữu dụng ngẫu nhiên (RUM).Trong RUM, với cùng một phương án lựa chọn các cá nhân sẽ có hữu dụng là như nhau. Tuy nhiên đặc tính của cá nhân có thể ảnh hưởng đến lựa chọn nhưng không được đo lường hoặc không thể đo lường. Vì vậy Uj được xem là biến ngẫu nhiên, trong đó εij là sai số ngẫu nhiên bao gồm các đặc tính không quan sát được của các lựa chọn và các đặc tính của cá nhân.
RUM/MNL có thể bao gồm các thuộc tính của các phương án lựa chọn và các biến thuộc tính của cá nhân. Các biến thuộc tính của cá nhân có thể được đưa vào RUM bằng cách tương tác với các thuộc tính của phương án.2 Các nghiên cứu liên quan Nghiên cứu về nhu cầu chăm sóc sức khỏe đã được thực hiện nhiều trên thế giới. Các nghiên cứu thường tập trung vào hành vi tìm kiếm chăm sóc y tế trên cơ sở phân tích mức giá, khả năng tiếp cận các lựa chọn thay thế và các đặc tính của cá nhân người bệnh. 8 Canaviri (2007) nghiên cứu lựa chọn cơ sở y tế ở Bolivia.
Bài viết sử dụng mô hình Random Parameter Logit (RPL) để phân tích. Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng RUM/MNL để ước lượng hệ số beta. Mô hình :Uij = θj +βi Xij +υij (2.11) Uij: Hữu dụng của cá nhân i với lựa chọn j Xij: Các đặc tính cá nhân và cơ sở y tế υij: Các đặc tính không quan sát được Nhu cầu chăm sóc y tế phụ thuộc vào cả hai đặc tính quan sát được và không quan sát được của cá nhân tìm kiếm chăm sóc y tế và cơ sở y tế. Đặc tính quan sát được của cá nhân có thể ảnh hưởng đến lựa chọn cuối cùng có thể là giới tính, tuổi tác, giáo dục, thu nhập, …; các đặc tính không quan sát được là ưu đãi đối với một số thủ tục y tế hay sở thích… Đặc tính của cơ sở y tế quan sát được là giá chăm sóc y tế, chất lượng của các dịch vụ (thuốc điều trị, các dịch vụ sẵn có), khoảng cách từ người bệnh đến cơ sở y tế và thời gian chờ đợi để được chăm sóc y tế, và đặc tính không quan sát bao gồm uy tín của nhà cung cấp, mức độ sạch sẽ của các trung tâm y tế, kinh nghiệm y tế của nhà cung cấp… Cá nhân có ba lựa chọn bao gồm: cơ sở y tế công, cơ sở y tế tư nhân và tự điều trị.
Cá nhân lựa chọn để tối đa hóa hữu dụng. Dữ liệu thu thập trong hai năm 1999 và 2000. Hai cơ sở dữ liệu được sáp nhập như sau: nếu cá nhân đã được phỏng vấn vào năm 1999 và sau đó được phỏng vấn vào năm 2000 thì loại bỏ dữ liệu năm 2000. Do đó, dữ liệu bao gồm các cá nhân được phỏng vấn năm 1999 và các cá nhân mới được phỏng vấn vào năm 2000.
Nghiên cứu này chỉ bao gồm điều trị ngoại trú do hạn chế về số liệu. Trong nghiên cứu này, tác giả không thu thập được dữ liệu về khoảng cách đến các cơ sở y tế hay thời gian đến các 9 cơ sở y tế nên mô hình phân tích không có biến này. Nghiên cứu chia người bệnh thành ba nhóm: trẻ em, phụ nữ có con dưới 12 tháng tuổi và người trưởng thành để phân tích. Để ước lượng mô hình RPL, cần tất cả các giá của các cơ sở y tế thay thế mà không được lựa chọn khi cá nhân bị bệnh.
Để ước lượng giá cả, tác giả đã tập hợp tất cả các cá nhân trong nhóm theo lựa chọn điều trị, loại bệnh, thành phố, khu vực (thành thị hay nông thôn). Bằng cách này tác giả đảm bảo tính đồng nhất để ước lượng giá thay thế. Đối với các nhóm, tác giả ước tính giá theo sách tham khảo về mức phí y tế được sử dụng cho tất cả các bác sĩ (nhà nước và tư nhân) như một tài liệu tham khảo trong tất cả các cơ sở y tế ở Bolivia. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng giá y tế và thu nhập là yếu tố quyết định lựa chọn cơ sở y tế.
Giá y tế của cơ sở y tế công gia tăng, trẻ em và phụ nữ có con dưới 12 tháng tuổi sẽ lựa cơ sở y tế tư nhân thay vì cơ sở y tế công. Ngoài ra, phụ nữ có con dưới 12 tháng tuổi nhạy cảm hơn so với trẻ em và người trưởng thành với những thay đổi về giá cả và thu nhập. Khi thu nhập tăng lên, phụ nữ có con dưới 12 tháng tuổi và trẻ em lựa chọn cơ sở y tế tư nhân nhiều hơn và giảm đến cơ sở y tế công.