CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Nội dung của chương tập trung trình bày các nghiên cứu đã được thực hiện trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài mà tác giả nghiên cứu, nhằm đưa ra những nhận xét và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài.1 Các nghiên cứu nước ngoài Abdel-Kader và Luther (2008) với đề tài “The impact of firm characteristics on management accounting practices: A UK-based empirical analysis”. Tạm dịch: Ảnh hưởng của đặc điểm DN đến thực tiễn kế toán quản trị. Một phân tích thực nghiệm tại Anh.
Nghiên cứu đã chỉ ra các doanh nghiệp sản xuất (DNSX) ở Anh Quốc trong ngành công nghiệp thức ăn và nước giải khát, bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với thống kê mô tả, tác giả xây dựng, kiểm định thành công mô hình các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT như sau: Nhận thức về sự bất ổn của môi trường, Quy mô DN, Nguồn lực khách hàng, Phân quyền, Kỹ thuật sản xuất tiên tiến (AMT), Quản trị chất lượng toàn diện (TQM), Quản trị hàng tồn kho Just in Time (JIT). Kết quả nghiên cứu tác giả đã chỉ ra đối với các DN này các công cụ kỹ thuật KTQT truyền thống vẫn được các DN áp dụng phổ biến, tuy nhiên đồng thời cũng có dấu hiệu cho thấy các công cụ kỹ thuật của KTQT tiên tiến được áp dụng như: các thông tin liên quan đến chi phí chất lượng, các thước đo phi tài chính liên quan đến nhân viên, các phân tích về điểm mạnh – điểm yếu của đối thủ cạnh tranh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đặc điểm ngành nghề, vị trí địa lý khác nhau sẽ cho kết quả vận dụng KTQT là không tương tự ở các DN. Alper Erserim (2012) với đề tài “The Impacts of Organizational Culture, Firm's Characteristics and External Environment of Firms on Management Accounting Practices: An Empirical Research on Industrial Firms in Turkey”.
Tạm dịch: Ảnh hưởng của văn hóa tổ chức, đặc điểm của DN và môi trường bên ngoài của các DN đến việc thực hành KTQT. Một nghiên cứu thực nghiệm ở các DN công nghiệp tại Thổ Nhĩ Kỳ. Nghiên cứu này thực hiện khảo sát với mẫu bao gồm 84 công ty thuộc lĩnh vực công nghiệp tại Thổ Nhĩ Kỳ. Tác giả lần lượt đưa ra và kiểm định các biến ảnh hưởng đến vận dụng KTQT chịu ảnh hưởng bởi văn hóa 6 doanh nghiệp (văn hóa tổ chức hỗ trợ, văn hóa tổ chức sáng tạo, văn hóa tổ chức dựa trên quy tắc và văn hóa tổ chức dựa trên mục tiêu) và nhân tố thiết kế tổ chức doanh nghiệp (mức độ tập trung kinh doanh, mức độ chính thức hóa kinh doanh, mức độ cạnh tranh được nhận thức và mức độ không chắc chắn về môi trường).
Với phương pháp nghiên cứu định lượng, kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức hỗ trợ, quan hệ giữa văn hóa tổ chức dựa trên quy tắc, văn hóa tổ chức theo định hướng mục tiêu, quan hệ giữa chính thức hóa đến việc vận dụng KTQT. (2014) với đề tài “The adoption of management accounting practices in malaysian small and medium-sized enterprises. Asian Social Science, 10(2), 236”. Tạm dịch: Việc vận dụng thực hành KTQT trong các DNNVV tại Malaysia.
Bài viết này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về việc vận dụng một loạt các hoạt động KTQT trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) của Malaysia trong lĩnh vực sản xuất. Dữ liệu được thu thập từ một cuộc khảo sát qua đường bưu điện bằng việc gởi và thu thập bảng hỏi của 160 nhà quản lý và kế toán viên được khảo sát phục vụ cho nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống các phương pháp KTQT (Management Accounting Practices-MAPs) truyền thống như dự toán ngân sách, chi phí truyền thống và các biện pháp hiệu quả tài chính được các DN sử dụng rộng rãi. Kết quả cũng cho thấy một số lượng đáng kể các DN đã vận dụng một hoặc nhiều biện pháp cả tài chính và phi tài chính nhưng sự phụ thuộc vào các biện pháp tài chính lớn hơn so với các biện pháp phi tài chính.
Các biện pháp phi tài chính thường được người trả lời sử dụng là giao hàng đúng hạn, số lượng khiếu nại của khách hàng, tỷ lệ lỗi và thời gian sản xuất. Những phát hiện này cho thấy rằng các DN sử dụng các biện pháp hiệu quả phi tài chính, sẽ tập trung vào quá trình nội bộ và tập trung vào khách hàng hơn là tập trung vào nhân viên. Hơn nữa các kỹ thuật KTQT được phát triển gần đây như ABC, các biện pháp thực hiện phi tài chính đặc biệt là các biện pháp định hướng nhân viên, phân tích hỗ trợ quyết định và KTQT chiến lược chỉ được vận dụng bởi một số ít các DN được khảo sát. Những người được hỏi cũng chỉ ra 7 mức độ sử dụng thấp của tất cả các kỹ thuật thẩm định đầu tư trong quá trình ra quyết định của họ.
Phát hiện cho thấy với quy mô tương đối nhỏ của các công ty phản hồi và do một số hạn chế, các DNNVV không thể vận dụng MAPs toàn diện trong các DN của họ. Kamilah Ahmad, Shafie Mohamed Zabri, (2015) với đề tài “Factors explaining the use of management accounting practices in Malaysian medium- sized firms”. Tạm dịch: Các yếu tố giải thích việc vận dụng KTQT ở các DN vừa của Malaysia. Mục đích của nghiên cứu này là để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng KTQT trong các DN vừa của Malaysia trong lĩnh vực sản xuất.
Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp định lượng, theo đó tác giả đã gửi bảng câu hỏi khảo sát đến 500 DN vừa của Malaysia trong lĩnh vực sản xuất để điều tra ảnh hưởng của các nhân tố chính đến MAP, thu về 110 bảng khảo sát hợp lệ để sử dụng cho nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô DN, mức độ cạnh tranh thị trường, cam kết của chủ sở hữu/người quản lý, công nghệ sản xuất tiên tiến có ảnh hưởng đáng kể đến việc vận dụng KTQT trong các DN này. Tuy nhiên nghiên cứu này cũng có hạn chế là chỉ tập trung vào các DN vừa trong lĩnh vực sản xuất, đo đó, kết quả nghiên cứu thực nghiệm có thể thiếu tính tổng quát đối với tất cả các DN vừa của Malaysia. Nghiên cứu này bổ sung thêm các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng KTQT, và cung cấp một sự hiểu biết sâu hơn về MAP trong các DN vừa.
Kamisah Ismail, Che Ruhana Isa, Lokman Mia (2018) với đề tài “Market Competition, Lean Manufacturing Practices and The Role of Management Accounting Systems (MAS) Information”. Tạm dịch: Cạnh tranh thị trường, thực hành sản xuất tinh gọn và vai trò của các hệ thống KTQT (MAS). Theo các tác giả này thì việc vận dụng các kỹ thuật sản xuất tiên tiến là một trong những chiến lược giúp các DN sản xuất duy trì khả năng cạnh tranh và đạt được kết quả mong muốn kể cả các DNNVV. Nghiên cứu này lập luận rằng các hệ thống kế toán quản lý truyền thống (MAS) không còn có khả năng cung cấp thông tin cần thiết để hoạt 8 động trong môi trường kinh doanh luôn thay đổi.
Vì thế nghiên cứu này xem xét vai trò của thông tin MAS trong mối quan hệ giữa mức độ cạnh tranh thị trường, sản xuất tinh gọn và hiệu quả của tổ chức. Dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng bảng câu hỏi khảo sát gửi đến các DN sản xuất Malaysia. Kết quả cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa sản xuất tinh gọn và MAS, cũng như giữa MAS và hiệu quả của tổ chức. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ cạnh tranh trên thị trường ảnh hưởng đến việc vận dụng sản xuất tinh gọn của DN.
Đồng thời kết quả trên cũng chỉ ra rằng mức độ cạnh tranh thị trường và việc thực hiện sản xuất tinh gọn ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin quản trị của các nhà quản lý.2 Các nghiên cứu trong nước Đặng Thị Hồng Như (2013) với nghiên cứu “Ứng dụng các công cụ kỹ thuật kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính với các phương pháp cụ thể như thống kê mô tả, phân tích, so sánh, tổng hợp. nghiên cứu trình bày hệ thống cơ sở lý luận về tổ chức KTQT vào DNNVV.
Tiếp đó, khảo sát tình hình ứng dụng các công cụ kỹ thuật KTQT trong các DNNVV, nêu được những ưu điểm, hạn chế cũng như nguyên nhân của những hạn chế trong ứng dụng các công cụ kỹ thuật KTQT ở các DN này. Cuối cùng, đề xuất các kiến nghị về ứng dụng các công cụ kỹ thuật KTQT trong các DN nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng KTQT cũng như hiệu quả quản lý của các DN này. Nguyễn Thị Ngọc Lan (2014) với nghiên cứu “Tổ chức công tác kế toán quản trị cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP. Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP.
Bằng phương pháp nghiên cứu định tính. Tác giả đã mô tả và phân tích thực trạng tổ chức công tác KTQT cho các DNNVV trên địa bàn TP. HCM, nêu được những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác này, đề xuất các giải pháp tổ chức công tác KTQT cho các DNNVV trên địa bàn TP. Nguyễn Ngọc Vũ (2017) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc lĩnh vực phi 9 tài chính ở Thành phố Hồ Chí Minh”.
Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP. Bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và phương pháp nghiên cứu định tính với dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát, đề tài xác định được các nhân tố cũng như đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến việc vận dụng KTQT trong các DNNVV thuộc lĩnh vực phi tài chính ở TP.HCM, cụ thể kết quả nghiên cứu chỉ ra có 4 nhân tố ảnh hưởng theo thứ tự ảnh hưởng giảm dần đến việc vận dụng KTQT ở các DN này như sau: Quy mô DN, trình độ nhân viên, mức độ cạnh tranh trong ngành và áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến. Cuối cùng, tác giả đề xuất các kiến nghị liên quan đến các nhân tố nhằm nâng cao việc vận dụng KTQT ở các DN này. Nguyễn Vũ Thanh Giang (2017) với “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp tại địa bàn TP.
Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP.