CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THẺ THANH TOÁN NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Theo pháp lệnh Ngân hàng ngày 23/05/1990 của Hội đồng Nhà nước xác định "Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán"[ 6, tr. Phân loại ngân hàng thương mại NHTM được chia làm hai loại: - NHTM Nhà nước: Là NHTM được thành lập bằng 100% vốn ngân sách Nhà nước.
Ở Việt Nam hiện nay chỉ còn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là NH TM Nhà nước. Ngoài ra, do quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng mà hiện nay có 3 Ngân hàng được Nhà nước mua lại với giá 0 đồng là: Ngân hàng Xây dựng Việt Nam, Ngân hàng Đại dương; Ngân hàng Dầu khí toàn cầu. - Ngân hàng TMCP: Là NHTM thành lập dưới hình thức công ty cổ phần. Trong đó cá nhân hay pháp nhân chỉ được sở hữu một số cổ phần nhất định theo quy định của NHNN Việt Nam.
Một số Ngân hàng TMCP ở Việt Nam là: Ngân hàng TMCP Á Châu Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Ngân hàng TMCP Quân đội. Vai trò của ngân hàng thương mại - NHTM giúp các doanh nghiệp có vốn đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh - NHTM góp phần phân bổ hợp lý các nguồn lực giữa các vùng trong quốc gia, tạo điều kiện phát triển cân đối nền kinh tế - NHTM tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương. - NHTM tạo cầu nối phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia. Những vấn đề chung về thanh toán không dùng tiền mặt 1.
Khái niệm về thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán không dùng tiền mặt( TTKDTM) là thanh toán qua ngân hàng, là tổng hợp các mối quan hệ chi trả tiền tệ được thực hiện bằng cách trích chuyển từ tài khoản của người này sang tài khoản của người khác tại ngân hàng với sự kiểm soát của ngân hàng mà không cần dùng tiền mặt. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt Hiện nay, hoạt động thanh toán đóng vai trò rất quan trọng cho sự phát triển của nhiều ngân hàng và của xã hội nói chung. Đặc biệt trong cơ chế thị trường, thanh toán không dùng tiền mặt( TTKDTM) mang lại một hiệu quả nhất định cho mọi thành phần tham gia, bao gồm khách hàng, ngân hàng, Nhà nước và nền kinh tế nói chung. - Về phía khách hàng TTKDTM là hình thức thanh toán mang lại sự an toàn, thuận lợi trong việc kiểm soát tài chính của họ.
Họ không cần phải mang theo quá nhiều tiền mặt khi thanh toán bởi vì sẽ gặp rất nhiều rủi ro như tai nạn, bị cướp, thiếu hụt trên đường vận chuyển.Do đó, ngân hàng với chức năng trung gian thanh toán sẽ mang lại sự an toàn cho khách hàng. Sự thuận tiện thể hiện qua các hình thức thanh toán như thẻ ngân hàng, thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu.Điều này giúp cá nhân và 6 doanh nghiệp giải quyết nhanh chóng, kịp thời việc thanh toán cho đối tác và ngược lại. - Về phía ngân hàng TTKDTM là công cụ giúp lưu thông tiền tệ và mang lại thu nhập cho ngân hàng khi kinh doanh dịch vụ này. Để thực hiện việc thanh toán qua ngân hàng, các cá nhân, tổ chức phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán và gửi một số tiền nhất định cho ngân hàng.
Loại tiền này luôn ghi dưới dạng số dư có, là nguồn vốn huy động tạm thời mà chưa được sử dụng đến. Đây là nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để thực hiện nghiệp vụ tín dụng, nhằm phát triển kinh tế, sau khi duy trì một phần nhất định bảo đảm việc thanh toán cho chủ tài khoản khi cần thiết. - Về phía Nhà nước Mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng đều phải chịu sự quản lý vĩ mô qua chính sách tiền tệ của Nhà nước. Việc các ngân hàng đang đa dạng các hình thức thanh toán sẽ phát huy đầy đủ hơn vai trò quản lý tổng thể của Nhà nước đối với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá.
- Về phía nền kinh tế nói chung TTKDTM có vai trò quan trọng trong lưu thông tiền mặt, giảm khối lượng lớn tiền mặt trên thị trường, từ đó giảm bớt chi phí cho việc phát hành, lưu thông, bảo quản, chuyên chở., vì thế tiết kiệm những phí tổn không đáng có cho xã hội. TTKDTM sẽ giúp các ngân hàng duy trì, điều chỉnh tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc.theo quy định của Ngân hàng nhà nước( NHNN), tránh hiện tượng lạm phát xảy ra cho nền kinh tế. NHNN sẽ điều hoà lượng tiền tệ lưu thông trên thị trường, góp phần đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định. Các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện hành - Các phương thức giữa các ngân hàng Có 5 phương thức thanh toán giữa các ngân hàng: + Thanh toán liên ngân hàng + Thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng + Thanh toán qua NHNN + Mở tài khoản tiền gửi ở các ngân hàng khác để thanh toán + Uỷ nhiệm thu chi hộ - Các phương thức thanh toán của các đơn vị cá nhân Thống đốc NHNN Việt Nam đã ra quyết định số 226/QĐ-NHNN về TTKDTM, bao gồm: Séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thư tín dụng và thẻ thanh toán.
Những lý luận chung về chất lượng dịch vụ ngân hàng 1. Dịch vụ "Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là không sờ thấy được và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có hoặc có thể không liên quan đến hàng hoá dưới dạng vật chất của nó" [ 10, tr. Chất lượng dịch vụ “Chất lượng dịch vụ là mức độ hài lòng của khách hàng trong quá trình cảm nhận tiêu dùng dịch vụ, là dịch vụ tổng hợp của doanh nghiệp mang lại chuỗi lợi ích và thoả mãn đầy đủ nhất giá trị mong đợi của khách hàng trong hoạt động sản xuất cung ứng và trong phân phối dịch vụ ở đầu ra" [ 9, tr.
Chất lượng dịch vụ ngân hàng "Chất lượng dịch vụ ngân hàng là năng lực của ngân hàng, được ngân hàng cung ứng và thể hiện qua mức độ thoả mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu" [ 16, tr. 8 Chất lượng dịch vụ do khách hàng cảm nhận được chứ không phải do ngân hàng quyết định. Chất lượng dịch vụ ngân hàng thể hiện sự phù hợp với nhu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu. Các tiêu chuẩn cảm nhận chất lượng dịch vụ ngân hàng Theo tập thể tác giả Marketing Ngân hàng, Viện khoa học Ngân hàng thì chất lượng dịch vụ của ngân hàng được cảm nhận qua các tiêu chuẩn [ 16, tr.36]: Các yếu tố hữu hình: Phương tiện vật chất, trang thiết bị, con người phục vụ, giấy tờ tài liệu, bầu không khí giao dịch.
Sẵn sàng đáp ứng: sẵn sàng hỗ trợ và đảm bảo cung ứng dịch vụ mau lẹ. Sự đảm bảo: Trình độ chuyên môn của nhân sự ngân hàng, tính lịch sự, dễ mến, sự tín nhiệm với khách hàng, tính an toàn. Sự thấu cảm: Dễ gần, dễ thân thiện, quan tâm, lo lắng đến từng khách hàng. Mức độ tin cậy: Khả năng đảm bảo thực hiện dịch vụ đã hứa hẹn một cách chắc chắn và chính xác.
Bản thân dịch vụ sử dụng: là kết quả tốt của quá trình cung ứng một dịch vụ ngân hàng cụ thể, bao gồm hai thuộc tính: + Thuộc tính kỹ thuật: Những cấu thành và phương thức vận hành dịch vụ (các quy định, các thủ tục, yếu tố pháp lý, phí,. + Thuộc tính sử dụng: Thoả mãn đúng một nhu cầu nào đó. Cơ sở xây dựng hệ thống quản trị chất lượng dịch vụ ngân hàng Bất cứ chất lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ nào cũng được xây dựng trên nền tảng, quan điểm Quản trị chất lượng toàn bộ (TQM). Hệ thống quản trị chất lượng dịch vụ ngân hàng cũng có thể được xây dựng trên cơ sở đó với các nội dung chủ yếu sau: Thứ nhất, chất lượng dịch vụ là cái khách hàng có thể nhận thức được, chất lượng xuất phát từ nhu cầu của khách hàng và kết thúc bằng sự đánh giá của khách hàng.
9 Thứ hai, chất lượng dịch vụ được thể hiện và phản ánh trong toàn bộ quá trình hoạt động chứ không đơn thuần ở bản thân dịch vụ cung ứng. Cụ thể là chất lượng nhân sự tiếp xúc, chất lượng khách hàng, chất lượng phương tiện vật chất, chất lượng phối hợp quy trình, chất lượng các yếu tố không tiếp xúc với khách hàng. Thứ ba, chất lượng đòi hỏi sự tận tâm chung của toàn thể nhân viên trong ngân hàng, ngân hàng chỉ có thể đảm bảo chất lượng khi toàn thể nhân viên đều cam kết đảm bảo chất lượng, được động viên, được huấn luyện về đảm bảo về chất lượng trở thành thói quen văn hoá của ngân hàng. Thứ tư, cải tiến chất lượng dịch vụ đòi hỏi phải có bước đột phá bằng những cải tiến mới hơn, sáng tạo hơn, đưa lại sự nâng cấp vượt bậc về chất lượng.
Thứ năm, chất lượng không đòi hỏi thêm chi phí, thậm chí giảm được những chi phí không chất lượng. Những vấn đề cơ bản về thẻ thanh toán 1. Một số khái niệm về thẻ thanh toán Theo “Quy chế phát hành, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng” ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ- NHNN ngày 15/5/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì Thẻ ngân hàng là: “phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản các bên thỏa thuận” [ 8, tr. Đặc điểm cấu tạo Thẻ được làm từ nhựa cứng, hình chữ nhật với kích thước chuẩn hóa quốc tế là 54mm x 84mm, dày 1mm, có 4 góc tròn.
Thẻ có 3 lớp, lõi thẻ là nhựa cứng màu trắng, ở giữa có 2 lớp nhựa tráng mỏng. Trên thẻ phải có đủ các thông tin sau: Mặt trước của thẻ phải ghi: - Loại thẻ (Tên và biểu tượng của ngân hàng phát hành thẻ) - Số thẻ. 10 - Tên người sử dụng. - Ngày hết hiệu lực.
- Biểu tượng của tổ chức thẻ. - Các đặc tính để tăng tính an toàn của thẻ, đề phòng giả mạo.