mở đầu cho phương thức thanh toán thẻ tại Việt Nam. Sau đó Mastercard, JCB, Dinnerclub, Amex… cũng ồ ạt thâm nhập vào Việt Nam. Khái niệm thẻ Ngân hàng Đối với thẻ thanh toán, có nhiều khái niệm để diễn đạt nó, mỗi một cách diễn đạt nhằm làm nổi bật một nội dung nào đó. Sau đây là một số khái niệm về thẻ thanh toán: - Thẻ là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư của mình ở tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp theo Hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ.
Thẻ thanh toán (thẻ chi trả) là một phương tiện thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động. - Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân hàng/Tổ chức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant). Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán. Tóm lại: các cách diễn đạt trên đều phản ánh lên đây là một phương thức thanh toán mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hoá dịch vụ hay rút tiền mặt tự động thông qua máy đọc thẻ hay các máy rút tiền tự động.
5 Tuy nhiên, theo Quyết định số 20/2007/-QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng thì: “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận”. “Giao dịch thẻ”: Là việc sử dụng thẻ để gửi, nạp, rút tiền mặt, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, sử dụng các dịch vụ khác do tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ cung ứng. Đặc điểm chung - Thẻ qui định thời hạn sử dụng của chủ thẻ có quyền sử dụng nó nhiều lần cho đến khi nào sử dụng hết số tiền trên tài khoản. - Thẻ thanh toán là loại thẻ đích danh, không thể chuyển nhượng bằng thủ tục kí hậu như séc.
- Thẻ thanh toán làm bằng nhựa theo mẫu riêng của từng tổ chức phát hành. - Tính an toàn và nhanh chóng: Không tính đến những vấn nạn ăn cắp và làm giả thẻ thanh toán trên toàn cầu hiện nay, có thể nói người sử dụng thẻ thanh toán rất yên tâm về số tiền của mình trước nguy cơ bị mất cắp do móc túi hay trộm cắp. Ngay cả trong trường hợp thẻ bị lấy cắp, ngân hàng cũng bảo vệ tiền cho chủ thẻ bằng số PIN, ảnh và chữ ký trên thẻ nhằm tránh khả năng rút tiền của kẻ ăn trộm. Hơn thế nữa, hầu hết các giao dịch thẻ đều được thực hiện qua mạng kết nối trực tuyến từ cơ sở chấp nhận thẻ hay điểm rút tiền mặt tới ngân hàng thanh toán, ngân hàng phát hành và các Tổ chức thẻ Quốc tế.
Do đó việc ghi nợ, ghi có cho các chủ thể tham gia quy trình thanh toán được thực hiện một các tự động, dẫn đến việc quá trình thanh toán diễn ra rất dễ dàng, tiện lợi và nhanh chóng. - Tính tiện lợi: Là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, thẻ cung cấp cho khách hàng sự tiện lợi mà không một phương tiện thanh toán nào có thể mang lại được. Đặc biệt đối với những người phải đi ra nước ngoài đi công tác hay là đi du lịch, thẻ có thể giúp họ thanh toán ở gần như bất cứ nơi nào mà không cần phải mang theo tiền mặt hay séc du lịch, không phụ thuộc vào khối lượng tiền họ cần thanh toán. Thẻ được coi là phương tiện thanh toán tốt nhất trong số các phương tiện thanh toán phục vụ tiêu dùng trong xã hội hiện đại và văn minh.
- Tính linh hoạt: Thẻ thanh toán có nhiều loại, đa dạng, phong phú về hạn mức tín dụng của thẻ nên thích hợp với hầu hết mọi đối tượng khách hàng, từ những khách 6 hàng có thu nhập thấp (thẻ thường) cho tới những khách hàng có thu nhập cao (thẻ vàng), khách hàng có nhu cầu rút tiền mặt (thẻ rút tiền mặt), cho tới nhu cầu du lịch giải trí , thẻ cung cấp cho khách hàng độ thoả dụng tối đa, thoả mãn nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng. Cấu tạo của thẻ ngân hàng Hiện nay, hầu hết các loại thẻ đều được làm bằng nhựa cứng với 4 góc tròn, có dạng hình chữ nhật. Thẻ gồm 3 lớp được ép với kỹ thuật công nghệ cao, lõi thẻ được làm bằng nhựa cứng nằm giữa hai lớp nhựa cán mỏng. Kích thước thẻ: 95mm*55mm*0,76mm Với mỗi cách quản lý và xử lý thông tin của thẻ mà thẻ được cấu tạo bởi dải băng từ (thẻ từ) hay vi mạch điện tử (thẻ chíp) hoặc ghi số liệu (thẻ chíp) hoặc cả băng từ và cả chíp (thẻ từ có chíp).
Mặt trước của thẻ gồm có: - Tên và biểu tượng của ngân hàng phát hành: Có thể xem như yếu tố an ninh chống giả mạo. - Số thẻ: Được dập nổi trên thẻ. - Họ và tên của chủ thẻ: Là chữ in nổi, có cả ảnh nếu là thẻ Visa. - Con chíp điện tử (với thẻ smart): Có chứa bộ nhớ hoặc bộ nhớ với một bộ vi xử lý chứa các ứng dụng như xác thực thông tin cá nhân.
- Ngày hiệu lực của thẻ: Thời hạn mà thẻ được lưu hành. - Biểu tượng của tổ chức thẻ Mặt sau của thẻ gồm có: - Dải băng từ màu đen, chứa các thông tin đã được mã hóa theo một thể thống nhất: Số thẻ, ngày hết hạn, các đặc điểm an ninh, tên chủ thẻ, mã số cá nhân của chủ thẻ, tên ngân hàng phát hành. - Ô chữ ký giành cho chủ thẻ - Một số hướng dẫn giành cho chủ thẻ: điện thoại liên lạc… 1. Phân loại thẻ 1.
Phân loại thẻ theo đặc tính kỹ thuật Thẻ khắc chữ nổi: Đây là loại thẻ được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi. Đó cũng là loại thẻ đầu tiên được sản xuất theo công nghệ tiên tiến này. Trên bề mặt thẻ 7 những thông tin cần thiết được khắc nổi. Hiện nay người ta không dùng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật sản xuất qua thô sơ, dễ bị làm giả.
Thẻ băng từ (Magnetic stripe): Được sản xuất bằng kỹ thuật từ tính với một băng từ chứa hai rãnh và thông tin ở mặt sau của thẻ. Thẻ được sử dụng phổ biến vào khoảng những năm 70 cho đến nay, tuy nhiên có một số nhược điểm: Khả năng bị lợi dụng cao do thông tin ghi trong thẻ không tự mă hóa được, có thể đọc thẻ dễ dàng bằng các thiết bị đọc gắn với máy vi tính, thẻ mang thông tin cố định, khu vực chứa thông tin hẹp không áp dụng được các kỹ thuật mã đảm bảo an toàn. Thẻ Chíp (Smart card): Gắn vào mặt trước của thẻ một chíp điện tử có cấu trúc như một bộ máy vi tính hoàn hảo. Thẻ này khắc phục được nhiều nhược điểm của thẻ từ với độ bảo mật cao.
Phân loại thẻ theo nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ Thẻ tín dụng (Credit Card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thoả thuận với tổ chức phát hành thẻ. Là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, cho phép chủ thẻ được sử dụng một hạn mức tín dụng quy định không phải trả lãi (nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền đúng kỳ hạn) để mua sắm hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ này. Thẻ ghi nợ (Debit card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép nhận tiền gửi không kỳ hạn. Thẻ ghi nợ còn được sử dụng để rút tiền mặt tại máy ATM.
Thẻ trả trước (prepaid card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ. Phân loại thẻ theo phạm vi lãnh thổ Thẻ nội địa: Là thẻ được tổ chức phát hành thẻ tại Việt Nam phát hành để giao dịch trong lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hoặc là thẻ do ngân hàng phát hành thẻ tại một quốc gia phát hành, được sử dụng và thanh toán tại quốc gia đó, do vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của quốc gia đó. Thẻ quốc tế: Là thẻ được tổ chức phát hành thẻ tại Việt Nam phát hành để giao dịch trong và ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hoặc là thẻ được tổ chức nước ngoài phát hành và giao dịch trong lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sử dụng các ngoại tệ mạnh để thanh toán.
Phân loại thẻ theo đối tượng sử dụng thẻ Thẻ cá nhân: Là loại thẻ dùng cho mục đích thanh toán của cá nhân, người sử dụng đứng tên trên hợp đồng sử dụng thẻ và chịu trách nhiệm thanh toán bằng nguồn tiền của mình thông qua tài khoản của họ mở tại ngân hàng phát hành. Thẻ công ty: Là thẻ do công ty đề nghị NHPHT cấp thẻ cho cá nhân được công ty ủy quyền làm đại diện hợp pháp của công ty khi sử dụng thẻ. Công ty có trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu phát sinh bằng thẻ của cá nhân đó (hiếm khi được sử dụng). Việc phân loại thẻ một cách chi tiết như trên một mặt giúp NHTM dễ dàng quản lý việc phát hành, thanh toán và sử dụng thẻ, mặt khác điều đó cũng tạo điều kiện giúp các cơ quan có liên quan quản lý thẻ và phòng ngừa rủi ro tốt hơn.
Vai trò của thẻ ngân hàng và dịch vụ thanh toán thẻ 1. Đối với nền kinh tế: Giảm khối lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường: Thanh toán thẻ giúp loại bỏ một lượng tiền mặt lớn lẽ ra phải lưu thông trực tiếp trong lưu thông để thanh toán các khoản giao dịch trên thị trường ngày càng sôi động, phát triển ở tất cả các nước trên thế giới, qua đó giảm các chi phí bảo quản, vận chuyển, phát hành tiền cũng như chi phí chống tội phạm làm tiền giả.