chương 1 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 định nghĩa: “ Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” trong đó “ hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại 1. Nghiệp vụ huy động vốn Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng. Vốn được các ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức tiền gửi, đi vay, phát hành giấy tờ có giá.
Mặt khác, trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng tiến hành cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, cho các mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương và cả nước. Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng, tạo uy tín cho ngân hàng càng cao, các ngân hàng chủ động trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế và các tổ chức dân cư mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Nghiệp vụ sử dụng vốn Đây là nghiệp vụ trực tiếp mang lại lợi nhuận cho các NHTM. Nghiệp vụ sử dụng vốn có hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của ngân hàng, quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.
Do vậy, các ngân hàng phải nghiên cứu và đưa ra chiến lược sử dụng vốn của mình sao cho hiệu quả nhất. • NHTM tiến hành cho vay Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM. Theo thống kê, khoảng 60-75% thu nhập của các NHTM là từ hoạt động cho vay. Thành công hay thất bại của một ngân hàng tùy thuộc chủ yếu vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công của tín dụng xuất phát từ chính sách cho vay của ngân hàng.
Các loại cho vay có thể phân loại theo: mục đích, hình thức bảo đảm, kỳ hạn,…. • NHTM tiến hành đầu tư Các NHTM có thể sử dụng vốn để đầu tư vào mua bán, kinh doanh chứng khoán hoặc đầu tư góp vốn vào doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các ngân hàng có thể sử dụng vốn để đầu tư vào các trang thiết bị tài sản cố định phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, Ngân hàng cần thiết lập dự trữ ngân quỹ nhằm duy trì khả năng thanh toán thường xuyên cho khách hàng và bản thân ngân hàng.
6 Ngoài việc cho vay và đầu tư để thu được lợi nhuận, ngân hàng còn phải dự trữ một phần vốn huy động để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do Ngân hàng nhà nước đề ra. Nghiệp vụ trung gian Là nghiệp vụ mà các NHTM thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ. Để thanh toán nhanh chóng và thuận tiện, tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như: thanh toán bằng sec, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ. Mặt khác, các NHTM còn tiến hành môi giới, mua bán chứng khoán cho khách hàng và làm đại lý phát hành chứng khoán cho các công ty hay thực hiện các dịch vụ ủy thác như ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, ủy thác cấp phát, ủy thác giải ngân, thu hộ….
Các nghiệp vụ trung gian tạo thêm thu nhập cho ngân hàng nhưng mục đích chính là thu hút khách hàng, qua đó tạo điều kiện cho việc huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả. Do đó, các nghiệp vụ trên nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo cho ngân hàng tồn tại và phát triển bền vững trong mọi hoàn cảnh. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trường • NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế Ngân hàng thương mại huy động vốn từ các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế ( vốn tạm thời nhàn rỗi được giải phóng từ quá trình sản xuất, từ nguồn tiết kiệm của cư dân…). Thông qua nghiệp vụ tín dụng, NHTM đã cung cấp vốn cho nền kinh tế, đáp ứng đầy đủ kịp thời cho quá trình tái sản xuất.
Chính nhờ hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại, đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp có thể vay vốn, mở rộng quy mô, phát triển kinh doanh góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất. • NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, hoạt động của NHTM nếu có hiệu quả sẽ thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán các NHTM đã 7 góp phần mở rộng hay thu hẹp lượng tiền trong lưu thông. Hơn nữa, bằng việc cấp các khoản tín dụng cho nền kinh tế, NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp, phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả, thực thi vai trò điều tiết vĩ mô đúng theo phương châm “ Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường”.
Nợ xấu và quản lý nợ xấu của Ngân hàng thương mại 1. Nợ xấu của NHTM 1. Khái niệm nợ cho vay và nợ xấu - Nợ cho vay của NHTM: là khoản tiền NHTM sử dụng cho vay khách hàng trong một khoảng thời gian xác định với một lãi suất xác định hoặc thỏa thuận được quy định trong hợp đồng cho vay với nguyên tắc hoàn trả.[10,4] - Nợ xấu Hiện nay, có rất nhiều quan điểm về nợ xấu được đưa ra. Theo quan điểm của Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) + Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi như: - Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ - Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ.
- Những khoản nợ mà Ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ. - Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. + Nợ xấu là những khoản cho vay có thể không thu hồi được đầy đủ cho Ngân hàng. Điều đó đồng nghĩa với việc Ngân hàng không thể thu hồi vốn đầy đủ vì người mắc nợ rất khó kiếm được lợi nhuận từ công việc kinh doanh hoặc người mắc nợ không liên lạc với Ngân hàng để thanh toán hoặc hoàn cảnh chỉ rõ phần lớn tiền nợ sẽ không thể thu hồi được.
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) “ Một khoản cho vay được coi là không sinh lời ( nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/ hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh 8 toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”.[15] Theo quan điểm của Ngân hàng nhà nước Việt Nam Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của thống đốc NHNN ngày 22/4/2005 về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (TCTD) thì nợ xấu được định nghĩa như sau: “ Nợ xấu là những khỏan nợ được phân loại vào nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 6 hoặc điều 7 Quy định này”. Theo đó, nợ xấu được xác định dựa trên yếu tố định lượng ( quá hạn trên 90 ngày ) và yếu tố định tính ( đánh giá của tổ chức tín dụng về khả năng trả nợ của khách hàng ). Quan niệm về nợ xấu giữa các quốc gia và theo thông lệ quốc tế đều căn cứ trên 2 yếu tố định tính và định lượng. Tuy nhiên, các quan niệm này mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá khoản vay thông thường trên cơ sở khả năng trả nợ hiện thời của khách hàng vay mà không đề cập tới các khoản vay đã được xử lý bằng quỹ dự phòng của TCTD.
Những khoản vay đã được xử lý bằng quỹ dự phòng của TCTD về bản chất cũng như quy định của pháp luật cần được theo dõi, quản lý và thu hồi. Phân loại nợ xấu Theo Theo định định lượng tính - Nợ quá hạn từ 91- 180 ngày Nhóm - Nợ được TCTD đánh giá không có 3 khả năng thu hồi gốc và lãi khi đến hạn. - Nợ gia hạn lần đầu - Nợ được TCTD đánh giá có khả năng tổn thất 9 - Nợ trong thời gian thu hồi theo - Nợ trong thời gian thu hồi theo quyết định của thanh tra. quyết định của thanh tra.
- Nợ phân loại vào nhóm 3 theo yêu - Nợ phân loại vào nhóm 3 theo yêu cầu của NHNN cầu của NHNN - Nợ phân loại vào nhóm 3 theo - Nợ phân loại vào nhóm 3 theo thông tin do CIC cung cấp. thông tin do CIC cung cấp. - Trái phiếu doanh nghiệp quá hạn - Nợ chưa thu hồi được dưới 30 ngày thanh toán gốc, lãi từ 10- 90 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi. …vv… …vv… - Nợ quá hạn từ 181- 360 ngày Nhóm4 - Nợ được TCTD đánh giá có khả - Nợ cơ cấu lại thời hạn lần đầu quá năng tổn thất cao.
hạn dưới 90 ngày - Nợ thu hồi theo kết luận thanh tra - Nợ thu hồi theo kết luận thanh tra quá hạn đến 60 ngày quá hạn đến 60 ngày - Nợ phân loại vào nhóm 4 theo - Nợ phân loại vào nhóm 4 theo quyết định của NHNN quyết định của NHNN - Nợ phân loại vào nhóm 4 do thông - Nợ phân loại vào nhóm 4 do thông tin CIC cung cấp tin CIC cung cấp - Trái phiếu doanh nghiệp quá hạn - Nợ chưa thu hồi được từ 30- 60 thanh toán gốc, lãi từ 91- 180 ngày. ngày kể từ ngày có quyết định thu …vv… hồi. …vv… - Nợ quá hạn trên 360 ngày Nhóm5 - Nợ được TCTD đánh giá không có khả năng thu hồi, mất vốn.