phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về công tác tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng công tác tín dụng tại Agribank chi nhánh Đông Hải Phòng giai đoạn 2011 - 2015 Chƣơng 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác tín dụng tại Agribank chi nhánh Đông Hải Phòng trong thời gian tới 3 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm, chức năng của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Ngày 16/6/2010, Quốc hội đã thông qua Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 với nền tảng dựa trên Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004 và Nghị định số 59/2009/NĐ-CP. Luật các tổ chức tín dụng 2010 có hiệu lực kể t ngày 01/01/2011.
Luật quy định rõ: “Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. [2] Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thƣơng mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn t nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu. Hoạt động của NHTM nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là “vốn- tiền”, trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của NHTM.
Hoạt động của NHTM phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội. Chức năng của Ngân hàng thương mại * Chức năng trung gian tài chính Chức năng trung gian tín dụng đƣợc xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa ngƣời th a vốn và ngƣời có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NHTM v a đóng vai trò là ngƣời đi vay, v a đóng vai trò là ngƣời cho vay và hƣởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: ngƣời gửi tiền và ngƣời đi vay.
[6] * Chức năng trung gian thanh toán Trong thời đại ngày nay, t các tổ chức kinh tế tới các doanh nghiệp, 4 KHCN đều có nhu cầu thanh toán khi tham gia giao dịch mua bán. Hiểu đƣợc điều này nên các NHTM đóng vai trò là trung gian chuyển tiền, cung cấp cho khách hàng nhiều phƣơng tiện thanh toán trong và ngoài nƣớc phong phú nhƣ: uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, séc, thẻ tín dụng. Nhờ các phƣơng tiện thanh toán mà nhu cầu tiền mặt cho chi trả ngày càng giảm, tiết kiệm đƣợc thời gian và chi phí cho xã hội. [19] * Chức năng tạo phương tiện thanh toán Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhƣ trích tiền t tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phƣơng tiện thanh toán tiện lợi nhƣ séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phƣơng thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp ngƣời phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phƣơng thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm đƣợc rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lƣu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lƣu chuyển vốn, t đó góp phần phát triển kinh tế.
Tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm Trong nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trƣờng, trong cùng một thời gian luôn có một số ngƣời tạm thời th a vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó luôn có một số ngƣời tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tƣợng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn đƣợc dịch chuyển t nơi tạm thời th a sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu đƣợc do sử dụng vốn vay, đây chính là quan hệ tín dụng. Hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng đƣợc định nghĩa theo khoản 5 8 và khoản 10, điều 20 Luật các TCTD năm 2010 là “việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để thỏa thuận cấp tín dụng cho khách hàng với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác”.
Còn theo t điển thuật ngữ tài chính thì: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại trong các phƣơng thức sản xuất hàng hóa khác nhau và đƣợc biểu hiện nhƣ sự vay mƣợn trong thời hạn nào đó”. [2] Tín dụng Ngân hàng đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng (TCTD) với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó Ngân hàng (TCTD) chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng (TCTD) khi đến hạn thanh toán”. Đặc trưng tín dụng ngân hàng Tín dụng là quan hệ chuyển nhƣợng vốn giữa ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò v a là ngƣời đi vay v a là ngƣời cho vay. Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà ngƣời tiết kiệm, thông qua vai trò trung gian của ngân hàng, thực hiện đầu tƣ vốn vào các chủ thể có nhu cầu về vốn.
Mối quan hệ tín dụng có bốn đặc trƣng cơ bản cần phải thỏa mãn là “Lòng tin”, “Tính thời hạn”, “Tính hoàn trả”, “Ẩn chứa nhiều khả năng rủi ro”. Cụ thể: [5], [6] - Dựa trên cơ sở lòng tin là đặc điểm đầu tiên của hoạt động tín dụng. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho khách hàng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ cả gốc và vốn vay đúng hạn. Bên cạnh đó, ngƣời đi vay thì tin tƣởng vào khả năng sinh lời trong tƣơng lai t việc sử dụng vốn vay để có thể trả đƣợc nợ vay cũng nhƣ thu về lợi nhuận cho bản thân khách hàng.
- Đặc điểm thứ hai của tín dụng đó là sự chuyển nhƣợng một tài sản có thời hạn. Ngân hàng là trung gian tài chính, là cầu nối giữa những ngƣời có tiền tạm thời nhàn rỗi với những ngƣời đang có nhu cầu sử dụng tiền nhƣng lại không có tiền. Do dùng lƣợng tiền huy động đƣợc t dân cƣ và các tổ chức 6 kinh tế rồi đem cho vay nên ngân hàng phải tính toán thời gian phù hợp để có thể đảm bảo lƣợng tiền trả cho những ngƣời gửi tiền khi họ có nhu cầu rút tiền về sử dụng. Vì vậy, để xác định thời hạn cho vay hợp lý, ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tƣợng vay.
Đối với các khoản tín dụng dài hạn thì phải đƣợc đầu tƣ cho vay bằng nguồn vốn dài hạn và ngƣợc lại. Nếu ngân hàng xác định thời hạn vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tƣợng vay thì khách hàng không có đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn, gây khó khăn cho khách hàng. Tuy nhiên, nếu thời hạn cho vay lớn hơn chu kỳ luân chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, gây rủi ro tín dụng cho ngân hàng. - Đặc điểm tiếp theo của hoạt động tín dụng là phải trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Đã là cho vay thì ngƣời đi vay phải có trách nhiệm hoàn trả gốc vay. Tuy nhiên, trong quá trình cho vay, bên cho vay đã mất nhiều chi phí phục vụ cho công tác thẩm tra, theo dõi khách hàng vay cũng nhƣ phải trả lãi cho khách hàng gửi tiền. Vì vậy mà ngoài gốc vay thì ngƣời đi vay sẽ phải chịu một khoản lãi đƣợc xem là chi phí để đƣợc sử dụng vốn vay. - Hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng chính là đặc điểm thứ năm.
Việc phải trả gốc và lãi vay là nghĩa vụ và trách nhiệm mà bên đi vay phải thực hiện. Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy nhiều trƣờng hợp khách vay không có khả thanh toán toán. Nguyên nhân dẫn tới việc này không chỉ xuất phát t phía ngân hàng hay khách hàng vay vốn mà còn phụ thuộc vào môi trƣờng kinh tế bên ngoài tác động nằm ngoài tầm kiểm soát nhƣ sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát. Khi khách hàng gặp khó khăn do môi trƣờng kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng.
Phân loại tín dụng 1. Căn cứ vào phương thức cho vay - Cho vay theo món vay hay cho t ng lần: Mỗi lần khách hàng vay món nào thì sẽ phải làm hồ sơ món đó. - Cho vay theo hạn mức tín dụng: Khách hàng chỉ cần lập một bộ hồ sơ 7 vay vốn vào đầu kỳ kế hoạch và sử dụng nó cho nhiều món vay. - Cho vay theo hạn mức thấu chi: Khách hàng có thể chi vƣợt số tiền có trong tài khoản thanh toán của mình.
- Cho vay theo dự án đầu tƣ: Khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án phát triển SXKD, dịch vụ và các dự án đầu tƣ phục vụ đời sống. - Cho vay hợp vốn: Không chỉ một TCTD cho vay mà bao gồm cả một nhóm các TCTD. Trong đó, một TCTD sẽ làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các TCTD khác cùng thực hiện.