CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ BẢN THÂN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu. Tại Việt Nam đề tài về kỹ năng tự bảo vệ bản thân cũng đã được một số Tiến sĩ,Thạc sĩ quan tâm đên trong đó có Anh Nguyễn Đoàn Thế cũng đã có một bài báo Khoa học năm 2020 về “Thực trạng và giải pháp Quản lý giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho học sinh tiểu học” tại trường Tiểu học Thái Tân đã nêu ra được Giáo dục kĩ năng sống giúp trang bị cho học sinh những hiểu biết và kinh nghiệm thực tế để trải nghiệm trong đời sống cho học đặc biệt là kĩ năng tự bảo vệ cho học sinh càng quan trọng hơn, HS có KN tự bảo vệ tốt sẽ cho các em dần dần thích ứng được với môi trường xã hội, có thể tự tin, chủ động, không bị quá phụ thuộc vào người lớn mà vẫn có thể tự bảo vệ mình, tự giải quyết được một số vấn đề thiết thực trong cuộc sống, tự đem lại lợi ích chính đáng, điều kiện thuận lợi cho bản thân mình rèn luyện, học tập phấn đấu vươn lên. Thực tế hiện nay, việc rèn KNS nói chung, KN tự bảo vệ nói riêng cho học sinh trong nhà trường đã được quan tâm chú ý đến nhưng còn mang tính hình thức, chưa có các giải pháp quản lý khoa học, hiểu quả.Và Anh đã đi nghiên cứu và điều tra về thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho học sinh tiểu học và đã có kết quả như sau :Về mức độ quản lý lập kế hoach giáo dục kỹ năng tự bảo vệ và Số liệu thống kê đã phản ánh thực trạng, việc nghiên cứu các văn bản chỉ đạo, kế hoạch nhiệm vụ năm học của ngành, thực tế của nhà trường trước khi lập kế hoạch được đánh giá cao nhất nhưng điểm trung bình chỉ là 2.
Nội dung nào được hỏi về thực trạng lập kế hoạch cũng còn nhiều ý kiến đánh giá là không hiệu quả.Mức độ thực hiện việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho thấy rõ từ Bảng thống kê các ý kiến khảo sát về mức độ thực hiện khi tổ chức hoạt động GDKN tự bảo vệ cho học sinh tại địa bàn đã thể hiện việc thành lập và tổ chức hoạt động của ban chỉ đạo của nhà trường được xếp vị trí số 1 với 80 ý kiến cho là rất thường xuyên, 45 ý kiến được cho là thường xuyên song vẫn còn 4 ý kiến đánh giá là ít thường xuyên, 1 ý kiến cho là không thường xuyên; khi tổ chức thực hiện đều có sự phân công trách nhiệm của từng bộ phận, thành viên liên quan song vẫn còn 5 ý kiến đánh giá việc làm này là ít thường xuyên, 1 ý kiến dánh giá chưa thường xuyên. Tổ chức các hoạt động giám sát hỗ trợ, điều chỉnh trong quá trình thực hiện GDKN tự bảo vệ cho học sinh của nhà trường vẫn có một phần đánh giá là ít thường xuyên, không thường xuyên. Mức độ hiệu quả việc tổ chức hoạt động GDKN tự bảo vệ cho học sinh tại địa bàn đã thể hiện ở bảng trên. Qua bảng thống kê ta thấy hầu như các nội dung được hỏi đều có số ý kiến đánh giá đạt hiệu quả ở mức thấp (chưa đạt 50%).
Các nội dung đều đạt điểm trung bình ở mức dưới 4, chứng tỏ việc tổ chức hoạt động GDKN tự bảo vệ cho học sinh tại địa bàn huyện Nam Sách hiệu quả chưa cao. bảng điều tra thực trạng công tác chỉ đạo GDKN tự bảo vệ cho HS các trường tiểu học cho thấy nội dung phân công cụ thể nhiệm vụ cho từng thành viên đứng thứ nhất (2.68); nội dung nâng cao năng lực cho CBQL, GV được đánh giá thấp nhất (đứng cuối cùng với điểm trung bình là 2.48/4), hầu như tất cả nội dung được hỏi đều có ý kiến đánh giá đạt mức trung bình là chủ yếu. Điểm trung bình cho các ý kiến là 2. Điều này chứng tỏ trong công tác chỉ đạo GDKN tự bảo vệ cho HS, Ban Giám hiệu các trường mới quan tâm đến phân công rõ người, rõ việc nhưng việc nâng cao năng lực cho đội ngũ CBQL, GV chưa được quan tâm, công tác nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục có thể nói là nội dung quan trọng nhất nhưng thực tế tại các trường không như vậy.
Mức độ rất thường xuyên của các điều kiện được CBQL và GV đánh giá mức độ rất thường xuyên đạt từ 40. Mức độ thường xuyên của các điều kiện được CBQL và GV đánh giá mức độ thường xuyên đạt từ 42. Điều kiện đảm bảo sự sẵn sàng của chương trình GDKN tự bảo vệ cho học sinh được xếp ở vị trí thứ nhất với điểm trung bình là 3.36/4; tiếp theo được đánh giá ở vị trí số 2 là điều kiện đảm bảo năng lực GV cho thực hiện GDKN tự bảo vệ cho học sinh, cuối cùng là điều kiện về kinh phí đứng vị trí số 6. Mặc dù các điều kiện đảm bảo cho GDKN tự bảo vệ cho học sinh tại địa bàn đã được các trường quan tâm và lựa chọn theo thứ tự ưu tiên khá phù hợp song việc thực hiện chưa thường xuyên, vẫn còn nhiều ý kiến cho rằng việc này không được thực hiện thường xuyên, mức độ rất hiệu quả của các nội dung chỉ đạt từ 1.39%, mức độ hiệu quả của các nội dung chỉ đạt từ 30.93%, mức độ ít hiệu quả chiếm tỉ lệ cao hơn (53.23% ý kiến cho rằng việc đảm bảo các điều kiện cho giáo dục kĩ năng tự bảo vệ là không hiệu quả.
Trong đó việc đảm bảo sự sẵn sàng của chương trình GDKN tự bảo vệ cho học sinh và đảm bảo năng lực GV cho thực hiện GDKN tự bảo vệ cho học sinh được đánh giá ở mức cao hơn; điều kiện môi trường, không gian nơi diễn ra hoạt động GDKN tự bảo vệ cho học sinh được đánh giá là kém hiệu quả nhất với điểm trung bình là 2.Qua các bảng điều tra trên ta thấy rõ việc quản lý giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho học sinh tiểu học là không hiệu quả và tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp để nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng tụ bảo vệ cho học sinh tiểu học.Và cũng về đề tài nghiên cứu trên nhưng được mở rộng ra là sẽ nghiên cứu trên Khu vực miền núi phía Bắc ,bài báo của tác giả Lê Thị Thanh Huệ trường Đại học Sư phạm –Đại học Thái Nguyên về” Khảo sát kỹ năng tự bảo vệ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở các trường Mầm non khu vực miền núi phía bắc” bài báo đã nêu rõ Kỹ năng tự bảo vệ là một thành tố quan trọng trong hệ thống các kỹ năng sống cần hình thành và phát triển cho trẻ 5-6 tuổi, đặc biệt là trẻ em ở khu vực miền núi với phần lớn trẻ là người dân tộc thiểu số sinh sống ở các vùng sâu, vùng xa - những vùng có địa hình đồi núi, khí hậu khắc nghiệt. Trẻ em đi học gặp nhiều khó khăn và có nguy cơ cao mất an toàn như: nhà ở, trường học thường ở sườn núi, dốc cao; quãng đường từ nhà đến trường xa, trẻ tự đi bộ mà không có người lớn đưa đón; mưa lũ, sấm sét, sạt lở đất đá; bị bắt cóc; bị xâm hại; bị lạc đường, tai nạn giao thông, đuối nước; bị bỏng; vật sắc nhọn; bị côn trùng đốt và động vật hoang dã tấn công; bị đói, khát nước; bị ốm sốt; ở nhà một mình khi bố mẹ đi làm thuê dài ngày;. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục đích phát hiện thực trạng mức độ kỹ năng tự bảo vệ của trẻ, tìm hiểu các rào cản đối với hoạt động giáo dục kỹ năng tự vệ của trẻ ở khu vực này. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm: phương điều tra, phương pháp quan sát theo quá trình, bài tập tình huống, phương pháp phỏng vấn, phương pháp thống kê toán học (phần mềm SPSS 20.0),… Kết quả về cảm giác thoải mái và sự tham gia tích cực của trẻ trong hoạt động ở các trường đạt từ mức trung bình từ 2.64; mức độ kỹ năng tự bảo vệ của trẻ ở các nhóm kỹ năng được khảo sát phân bố chủ yếu ở mức 2 và 3, từ 1.Và tác giả cũng đã đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao mức độ kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho các em học sinh miền núi phía Bắc.
Một số khái niệm 1. Khái niệm “giáo dục” Trong cuốn “Dân chủ và giáo dục” của John Dewey năm 1916 ông cho rằng “Giáo dục là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu. Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học” Tại Việt Nam, một định nghĩa khác về giáo dục được Giáo sư Hồ Ngọc Đại đưa ra như sau: Giáo dục là một quá trình mà trong đó kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của một người hay một nhóm người này được truyền tải một cách tự nhiên mà không hề áp đặt sang một người hay một nhóm người khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu để từ đó tìm ra, khuyến khích, định hướng và hỗ trợ mỗi cá nhân phát huy tối đa được ưu điểm và sở thích của bản thân khiến họ trở thành chính mình, qua đó đóng góp được tối đa năng lực cho xã hội trong khi vẫn thỏa mãn được quan điểm, sở thích và thế mạnh của bản thân. Khái niệm “kỹ năng” Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng của tác giả Huyền Linh (Huyền Linh, 2014), “kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” Còn theo Từ điển Người học Oxford (Oxford 's Learner Dictionaries, 2022), kỹ năng (Skill) là khả năng một người có thể làm tốt một điều gì đó.
Tóm lại, trong giới hạn của nghiên cứu, kỹ năng nhìn chung là khả năng con người có thể làm tốt một điều gì đó qua quá trình hoạt động thực tiễn. Khái niệm “Kỹ năng tự vệ” Tự vệ là sử dụng sức mạnh thể chất hoặc những biện pháp để chống lại những mối đe dọa ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng con người. Như vậy, kỹ năng tự vệ là khả năng thực hiện những hành động để bảo vệ sức khỏe, tính mạng bản thân không bị tổn hại.