phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có ba chƣơng: Chƣơng 1: Vài nét về tình hình kinh tế, xã hội làng gốm Bát Tràng trƣớc năm 1986. Chƣơng 2: Những biến đổi kinh tế ở làng gốm Bát Tràng từ năm 1986 đến năm 2016. Chƣơng 3: Tình hình văn hóa, xã hội ở Bát Tràng trong thời kỳ đổi mới. 10 z Chƣơng 1 VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ, XÃ HỘI LÀNG GỐM BÁT TRÀNG TRƢỚC NĂM 1986 1.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA LÀNG GỐM BÁT TRÀNG Từ thủa sơ khai, mỗi ngƣời dân Việt Nam đều gắn bó, kết nối với nhau, là một thành tố của cộng đồng làng xã. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, với bao thăng trầm, biến động, làng Việt, với những nét văn hóa riêng, độc đáo đƣợc gìn giữ, trao truyền từ đời này qua đời khác, đã trở thành bức tranh văn hóa đa dạng, đậm đà bản sắc Việt Nam. Làng, trong mối quan hệ hữu cơ với nhà và nƣớc, đã trở thành nhân tố quan trọng cố kết cộng đồng, tạo nên sức mạnh đoàn kết không gì sánh đƣợc của dân tộc Việt Nam. Ở vùng trung du và đồng bằng miền Bắc Việt Nam, một xã có thể gồm một làng hoặc một số làng tùy thuộc vào quy mô của xã.
Khi các làng hợp thành một xã, thì các làng trở thành các yếu tố cấu thành một đơn vị hành chính và đƣợc gọi là thôn (một thuật ngữ Hán Việt). Vì vậy, làng và thôn ở đây gần nhƣ đồng nghĩa với nhau. Tuy nhiên, việc sử dụng từ làng và từ thôn có sự khác nhau về sắc thái biểu cảm. Từ làng thể hiện sự gắn bó, mang tính cảm xúc, và thƣờng đƣợc dùng trong đời sống hàng ngày.
Trong khi đó, từ thôn phản ánh tính chất quản lý hành chính, và thƣờng đƣợc dùng trong văn bản chính thức.135] Trong nhiều trƣờng hợp, một xã chỉ có một làng. Điều này dẫn tới sự kết hợp từ làng và từ xã thành một từ ghép với nghĩa không rõ ràng: làng xã.135] Sau năm 1946, ở các vùng kháng chiến, các xã (mới) đƣợc thành lập và trở thành đơn vị hành chính cấp cơ sở. Đơn vị này có một hoặc hơn một thôn.77] Lịch sử phát triển văn hoá và kinh tế Việt Nam luôn gắn liền với sự phát triển của các làng nghề. Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề là một 11 z quá trình tích luỹ kinh nghiệm lâu đời của những ngƣời thợ.
Trong số rất nhiều làng nghề ở Việt Nam, nhiều làng nghề có lịch sử hàng trăm năm và đƣợc truyền qua nhiều thế hệ. Nhiều làng nghề là một bộ phận kinh tế, văn hoá quan trọng góp phần phát triển kinh tế nông thôn, thậm chí có nghề đƣợc nâng lên thành di sản vật thể. Nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ độc đáo đƣợc làm bằng các vật liệu đơn giản mang đậm đặc trƣng văn hoá Việt Nam đã đƣợc đông đảo khách hàng trong và ngoài nƣớc ƣa chuộng, trở thành một tiềm năng kinh tế, văn hoá, xã hội có sức sống bền vững. Trong thời kỳ đầu, nghề thủ công chỉ có quy mô gia đình và phụ thuộc vào kinh tế tự nhiên: Ở đây, nghề thủ công với nông nghiệp chỉ là một mà thôi.411-412] Cùng với sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, nghề thủ công từ một nghề phụ trong nông nghiệp chuyển thành một nghề độc lập.
Tuy không làm nông nghiệp nhƣng những ngƣời thợ thủ công vẫn gắn chặt với làng quê. Có những thợ thủ công chuyên làm nghề thủ công nghiệp và sống bằng nghề đó, nhƣng cũng có những ngƣời làm nông nghiệp kiêm thợ thủ công. Càng về sau, số ngƣời trong làng chuyển hẳn sang sản xuất mặt hàng thủ công tăng lên dần, có đội ngũ thợ, có quy trình sản xuất thủ công nghiệp rõ ràng và mở rộng quy mô sản xuất đến mức độ nhất định thì làng đó đƣợc gọi là làng nghề. Hiện nay, trên phạm vi cả nƣớc có rất nhiều loại hình làng nghề nhƣ: Làng nghề làm gốm, làng nghề đúc đồng, làng nghề trồng cây hoa, làng nghề trồng cây cảnh, làng nghề nuôi cỏ cảnh,…Làng Bát Tràng là làng nghề làm gốm có lịch sử lâu đời.
Điều kiện tự nhiên và con ngƣời Làng nghề gốm sứ Bát Tràng ngày nay thuộc xã Bát Tràng, là một trong 31 xã của huyện Gia Lâm. Xã Bát Tràng hiện nay gồm 2 làng là Giang Cao và Bát Tràng, trong đó làng Bát Tràng vẫn còn khu làng cổ là nơi lƣu giữ 12 z những ký ức lịch sử về quá trình hình thành và phát triển của làng, nơi truyền đạt những tinh hoa của nghề làm gốm sứ. Xã Bát Tràng có bề dày lịch sử và đậm đà truyền thống văn hiến, nhân dân giàu lòng yêu nƣớc, có tinh thần cách mạng, cần cù và sáng tạo trong lao động sản xuất. Với đôi bàn tay khéo léo, ngƣời dân Bát Tràng đã tạo ra nhiều những sản phẩm gốm sứ với nhiều loại hình mẫu mã, kiểu dáng mới đáp ứng nhu cầu đa dạng của ngƣời tiêu dùng trong nƣớc và quốc tế.
Về vị trí địa lý, xã Bát Tràng nằm cách trung tâm thành phố Hà Nội 10km về phía Đông Nam, chạy dài hơn 3km ven sông Hồng, có diện tích đất tự nhiên khoảng 164,02 ha với 1879 hộ, 7892 nhân khẩu (theo số liệu thống kê dân số năm 2016). - Phía Bắc giáp với xã Đông Dƣ - Phía Đông giáp với xã Đa Tốn - Phía Tây giáp sông Hồng - Phía nam giáp xã Kim Lan (Gia Lâm) và xã Xuân Quan (huyện Khoái Châu, tỉnh Hƣng Yên) Trƣớc đây, khi đến đến thăm làng gốm Bát Tràng, sẽ thấy có đôi câu đối bằng gốm gắn trên cổng làng: “Lưỡng giới giang sơn đồ họa nhập Trùng môn yên nguyệt thái bình khai.”1 Dịch nghĩa: Ranh giới giữa hai nơi đẹp như tranh vẽ Cửa từng lớp, khói che mặt trăng, mở ra một thời thái bình, thịnh trị. Làng gốm Bát Tràng nằm trong vùng châu thổ sông Hồng, có địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ, đƣợc sông Hồng bồi tụ hằng năm. Làng Bát Tràng đƣợc thiên nhiên ƣu đãi, ban tặng cho nguồn đất sét trắng (đất sét cao lanh) để làm gốm, tạo nên nét đặc trƣng của gốm Bát Tràng xƣa và nay.
Lúc 1 Tác giả của hai câu đối này là cụ Nguyễn Mộng Bạch ngƣời làng Bát Tràng. 13 z đầu, ngƣời thợ gốm Bát Tràng khai thác đất sét trắng ngay tại làng, nguyên liệu đất sét trắng này đảm bảo độ tinh dẻo, ít bã và ít phải gia cố khi tạo hình. Nhƣng đến cuối đời nhà Lê, các gò đất sét trắng đã cạn, ngƣời thợ gốm Bát Tràng phải dùng đất lấy ở Rau (Sơn Tây), Cổ Điển (Phúc Yên) và đặc biệt là lấy đất Dâu Canh (Đông Anh). Từ cuối thời nhà Lê trở đi (đầu thế kỷ XV), ngƣời dân làng Bát Tràng sử dụng đất sông Dâu là nguyên liệu chính để làm gốm.
Cho đến cuối thế kỷ trƣớc, một mặt ngƣời Bát Tràng vẫn tiếp tục sử dụng đất làng Dâu để sản xuất đồ gốm, bên cạnh đó còn sử dụng đất sét cao lanh Lạc Từ, đất sét trắng Hồ Lao và Trúc Thôn (Đông Triều - Quảng Ninh) làm nguyên liệu để sản xuất đồ sành trắng. Theo Nguyễn Thừa Hỷ, xung quanh Bát Tràng, ở vùng đất Bắc Ninh cũ, có nhiều loại đất sét tốt (hoàng thổ và bạch thổ) dùng làm nguyên liệu trong nghề gốm. Bát Tràng đã sử dụng đất Cổ Điền, làng Dâu và xa hơn là đất Cao lanh ở Hổ Lao, Hồ Lê (Đông Triều).176] Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng đƣợc tạo ra bởi những bí quyết gia truyền, đòi hỏi kỹ thuật, kỹ xảo chế tác tinh tế, đƣợc tích lũy từ đời này qua đời khác, mang tính cá biệt về phong cách của mỗi nghệ nhân và nét đặc trƣng văn hóa của làng nghề. Trong chế tác, ngƣời nghệ nhân đã vẽ màu dƣới men, giữa men, trên men để tạo ra những sản phẩm độc đáo về màu sắc.
Nguồn nguyên liệu thích hợp tạo ra các loại men là từ tro, đất phù sa, đá màu, rỉ đồng, rỉ sắt…Cùng sự cải tiến kỹ thuật lò nung gốm đã thể hiện tài năng của những nghệ nhân làng gốm Bát Tràng. Sự hình thành và phát triển làng gốm Bát Tràng Nghề làm gốm ở Việt Nam đã có lịch sử phát triển từ rất lâu đời. Nằm trong hệ thống mạng lƣới thƣơng mại biển Đông, làng gốm Bát Tràng gần với kinh thành Thăng Long, án ngữ trên tuyến đƣờng thủy nối kinh đô ra biển, đƣợc thiên nhiên ƣu đãi, có nguồn đất sét trắng tốt, phù hợp với nghề chế tác gốm sứ. 14 z Sách “Đại Việt sử ký toàn thƣ” chép: “Nhâm thìn, Thiệu Phong năm thứ 12 (năm 1352) mùa thu, tháng bảy, nƣớc lớn tràn ngập vỡ đề Bát - Khối, lúa má chìm ngập Khoái Châu, Hồng Châu và Thuận An bị hại nhất” [47, tr.133] Đê Bát - Khối ở đây là đê Bát Tràng và Cự Khối Năm 1376 trong một cuộc nam chinh, đoàn thuyền của vua Trần Duệ Tông (1373 - 1377) xuất phát từ Thăng Long, xuôi theo sông Nhị (sông Hồng) “có đi qua bến sông xã Bát” tức bến sông Nhị thuộc xã Bát Tràng.160] Địa danh này, theo chú giải của Giáo sƣ Đào Duy Anh “xã Bát”, chính là xã Bát Tràng.
Tên gọi “Bát Tràng” xuất hiện lần đầu tiên trong sử liệu và đƣợc ghi nhận là một làng gốm nổi tiếng trong tác phẩm “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi (1380 - 1442) viết xong năm 1435 chép: Làng Bát Tràng làm đồ bát chén cùng với làng Huê Cầu (huyện Mỹ Văn, tỉnh Hƣng Yên) nhuộm thâm vải là hai làng cung cấp cống phẩm cho triều Minh (1368 - 1644) ở Trung Quốc. Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, Huê Cầu thuộc Văn Giang hai làng ấy cung ứng đồ cống cho Trung Quốc là 70 bộ chén đĩa, 200 tấm vải thâm.33] Nếu căn cứ vào “Dư địa chí” thì Bát Tràng chắc chắn đã có tên gọi vào thời Lê sơ (thế kỷ XV - XVI). Việc thành lập làng Bát Tràng có liên quan đến quá trình chuyển cƣ và tụ cƣ diễn ra trong một thời gian khá dài. Theo các bậc cao niên trong làng kể lại, thì những ngƣời đầu tiên đến lập nghiệp, khai làng là họ Nguyễn Ninh Tràng.
Chữ “Tràng” cũng đọc là “Trƣờng”, có thể đây là dòng họ Nguyễn từ Trƣờng Vĩnh Ninh (Thanh Hóa), nơi đã từng sản xuất ra loại gạch xây thành nổi tiếng trong lịch sử. Cũng theo các bậc cao niên trong làng, dòng họ Nguyễn Ninh Tràng là cƣ dân bản địa lâu đời nhất của làng, nên có vị trí cao nhất trong ngôi thứ, cũng nhƣ trong lễ hội làng. Vào ngày hội làng, dòng họ Nguyễn Ninh Tràng đƣợc quyền rƣớc bát hƣơng che lọng xanh đi cửa giữa vào đình.