CHƯƠNG 1 NHƯNG VẮN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỔI VỚI NHÃN HIỆU 1. MỌT SÓ VẮN ĐÈ Cơ BẢN VẺ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 1. Khái niệm, đặc điếm của nhãn hiệu và quyền sở hữu công nghiệp đối vói nhãn hiệu l. Khái niệm và đặc diêm của nhãn hiện Theo định nghĩa của Tô chức Sờ hữu trí tuệ The giới (WIPO): “nhãn hiện ĩà dấu hiệu dùng đê phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ cùa doanh nghiệp công nghiệp hoặc thương mại hoặc cùa một nhóm các doanh nghiệp do”.1 Dau hiệu dùng làm nliãn hiệu phải là những dấu hiệu nhìn thay được dưới dạng chĩr cái, từ ngiì, hình ảnli, hình vẽ hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thê hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc, hoặc là sự kết hợp cùa nhiều diêm yếu tố nói trên, và chi được chấp nhận bão hộ nếu chưa có cá nhân hoặc doanh nghiệp nào khác ngoài chủ sờ hữu nhãn lũệu sừ dụng hoặc nhãn hiệu không tràng hoặc tương ựr đến mức gây nham lẫn với một nhãn hiệu khác được đăng ký trước đó cho cùng loại sản phâm.
Kliái niệm nhãn hiệu của pháp luật Mỹ và pháp luật Cộng đồng châu Ầu cũng của tương đồng với kliái niệm nhãn hiệu nói trên của WIPO. Tuy nhiên, theo Điều 2 Luật Nhãn hiệu cùa Nhật Bản, thì nhãn hiệu có thê là chĩr cái, chít số, dấu hiệu, hình không gian ba chiều, hoặc bất kỳ sự kết hợp nào giữa chúng, hoặc sự kết hợp của chúng với mầu sắc, được sử dụng cho hàng hóa và dịch vụ. Nhãn hiệu này được áp dụng cho sân phâm và dịch vụ kill đáp ứng ít nliất một trong hai tiêu chí sau: (i) Đối với nhãn hiệu sản phâm, nó phải được sữ dụng trên săn phâm do một người sàn xuất, chứng nhận hoặc phân phối; hoặc (ii) Đối với nhãn hiệu dịch vụ, nó được sử dụng cho dịch vụ do một người cung cấp hoặc chứng nhận trong giao dịch thirơng mại. Tuy nhiên cho đến thời diêm này pháp luật Nhật Băn vẫn chưa công nhận cho đăng ký nhãn hiệu âm thanh và mùi.
Rõ ràng, hệ thống pháp luật của Nhật Bàn có 1 “Những điều chưa biết về sờ hữu trí tuệ - Tài liệu hướng dẫn dành cho các doanh nghiệp xuất khấu vừa và nhò”. Tning tâm thương mại quốc tế. 8 xu hướng bào thù hơn, kliông giống như sự linh hoạt trong luật lệ của Hoa Kỳ và Việt Nam. ơ Việt Nam, theo khoản 16 Điều 4 Luật Sờ him trí tuệ năm 2005 (được sữa đôi bô sung năm 2022), quy định: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùug đê phân biệt hàng hóa, dịch vụ cũa các tô chức, cá nhân khác nhau ”.
Điều kiện chung đê bão hộ đối với nhãn hiệu theo quy địnli của pháp luật là: “Nhãn hiệu được bào hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: (1) Là dấu hiệu nlùn thay được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết họp các yeu tố đó, được thê lũện bằng một hoặc nhiều màu sắc hoặc dấu hiệu âm thanh thê hiện được dưới dạng đồ họa; (2) Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sờ hữu nhãn lữệu với hàng hóa, dịch vụ của chù thê khác (Điều 72 Luật SHTT). Như vậy, nếu xét theo nghĩa rộng nliất của khái niệm nhãn hiệu, tức là dựa vào chức năng phân biệt nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ, thi nhãn hiệu được tạo thành bời rất nhiều loại yếu tố kliác nhau, đồng thời, phải đáp ứng các tiêu chí là các dấu lũệu có thê nhìn thấy được, các dấu hiệu âm thanh và những dấu hiệu cụ thê đê xem xét. Dấu hiệu có thê nhìn thấy đe cập đen những gì mà con người có thê câm nhận và hiêu được thông qua thị giác, chăng hạn như khách hàng có thê nhận diện thông qua việc quan sát, nhìn ngắm đê phát hiện ra loại hàng hóa, dịch vụ có đính kèm nhãn hiệu, thông qua đó có thê lựa chọn phù hợp với nhu cầu tiêu dùng cùa minh. Ngoài ra, pháp luật Việt Nam cũng đã mờ rộng tiêu chí bô sung thêm quy định bảo hộ nliãn hiệu đổi với âm thanh, ví dụ như âm nhạc, tiết nhạc được nhận dạng thông qua thính giác.
Đây là loại nhãn hiệu mới phát triên trong thời gian gần đây, phù hợp với xu hướng phát triên thương mại hàng hóa, âm thanli giúp người tiêu dùng phân biệt được nguồn gốc sản xuất khác nhau cùa hàng hóa cùng loại, ngay cả khi người tiêu dùng chưa nhìn thấy hàng hóa. Các biêu tượng đủ điều kiện đê xem xét bao gồm chít cái, từ, hình dạng, hình ãnh, và thậm chí là các hình thức ba chiều, hoặc bất kỳ sự phối hợp nào giữa chúng. Tóm lại, qua các khái niệm nliãn hiệu theo pháp luật của các tô chức quốc tế và các nước trên thế giới thì có thê tóm tat nhãn hiệu phải có những dấu hiệu thê hiện khả năng nhận biết và phân biệt. Dấu hiệu nhận biết và phân biệt được coi là một trong những yếu tố định lượng quan trọng đê phân biệt nhãn hiệu này với nhãn hiệu khác, đây là điều quan trọng bào đàm cho nhãn hiệu thực hiện chức năng của 9 mình, tạo dựng bản sắc riêng cho từng chù thê kinh doanh và tránh sự nhầm lẫn khi đưa hàng hóa vào lưu thông trên thị tnrờng.
Như vậy, nhãn hiệu chính là những dấu hiệu hữu hình mà từ đó xác định được nguồn gốc, đồng thời giúp phân biệt hàng hóa, dịch vụ với các sản phâm cùng loại nhưng khác nguồn gốc. Từ khái niệm trên có thê xác định đặc diêm cũa nhãn hiệu là dề nhận biết, ghi nhớ, phi vật chất và mang tính độc quyền. Cụ thê: Đau tiên, nhãn hiệu cùa hàng hóa và dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong việc phân biệt các sản phâm và dịch vụ của những cá nhân, doanh nghiệp và tô chức kliác nhau, do đó chúng cần có tínli dề nhận biết và dễ nhớ. Nhãn hiệu cần có những đặc trưng nôi bật và dễ dàng nhận diện về mặt hình ảnh.
Chúng thường là sự pha trộn độc đáo cùa hình ảnli, ngôn tìr và hình vẽ, tạo ra sự đặc sắc và ấn tượng mạnh mẽ đối với người tiêu dùng, và thường xuyên xuất hiện ờ những nơi dễ thay như mặt trước của săn phẩm, bao bì, tờ rơi, hoặc các phương tiện truyền thông khác. Thứ hai, nhãn hiệu hàng hóa và dịch VỊI là tài sản vô hình và không thê chạm vào được. Trái ngược với tài sàn vật chất thông thường, mà giá trị thường giảm sút theo thời gian do sử dụng lại nhiều lần, giá trị cùa nhãn hiệu lại tăng lên theo thời gian dựa trên uy tín và danh tiếng của sàn phẩm hoặc dịch vụ mà cá nhân, doanh nghiệp, tô chức cung cấp. Cuổi cùng, nhãn hiệu có tính độc quyền cho chủ sở hữu của nó.
Chù sờ hữu cùa nhãn hiệu hàng hóa và dịch vụ được bão hộ có quyền đầy đủ đê sử dụng, chuyên nliượng và kliai thác giá trị hr nhãn hiệu theo quy định của pháp luật hiện hành. Bất kỳ hành vi vi phạm nào đối với quyền sờ hữu trí tuệ của nhãn hiệu sẽ được xử lý theo các quy định pháp luật liên quan đến sờ hữu trí tuệ. Khái niệm, đặc điêm của quyền sớ hữu công nghiệp đoi với nhãn hiệu Sờ hữu công nghiệp là một khái niệm mang tính chất ước lệ và được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng rộng rãi, là một thuật ngữ chi một dạng quyền SHTT. QSHCN là các quyền hợp pháp cùa cá nhân, pháp nhân đối với các đối tượng sờ hữu công nghiệp.
QSHCN phát sinh khi đối tượng sở hữu công nghiệp đáp ứng đủ các tiêu chí bão hộ hoặc khi được cơ quan nhà nước có thâm quyền cấp vãn bang bão hộ. 10 Điều 1 Công ước Paris về bảo hộ QSHCN được ký kết ngày 20/03/1883 và được sữa đôi năm 1967, quy định các đối tượng sờ hữu công nghiệp được bảo hộ là: sáng che, mẫu hữu ích; kiêu dáng công nghiệp; nliãn hiệu; nhãn hiệu dịch vụ; tên thương mại; chi dần nguồn gốc hàng hóa; tên gọi xuất xứ hàng hóa; quyền chống cạnli tranh không lành mạnh. Klioàn 4 Điều 4 Luật SHTT quy định: “Quyền sõ' hữu công nghiệp Ịà quyền cùa tô chức, cá nhân đối vói sáng chế, kiêu dáng công nghiệp, thiết ke bố trí mạch tích họp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chì dẫn địa ỉỷ, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chong cạnh tranh không ỉành mạnh". Quyền sờ hữu công nghiệp là quyền, nghĩa VỊI cùa các chủ thê liên quan đến việc sử dụng, chuyên dịch các đối tượng sờ hữu công nghiệp.
Các quyền này phù hợp với quy định pháp luật, bao gồm quyền nliân thân và quyền tài sân cùa các chủ thê trong lĩnh vực sờ hữu công nghiệp và quyền ngăn chặn những hành vi xâm phạm hoặc cạnh tranh không lành mạnh đối với những quyền của những người phát minh, sáng tạo hoặc người sử dụng hợp pháp các đối tượng đó. Như vậy, có thê đưa ra khái niệm cơ bản nliat về QSHCN đối với nliãn hiệu chính là những quyền cùa tô chức, cá nhân đối với nhãn hiệu do mình sờ hữu và được pháp luật công nhận. Dưới góc độ pháp luật, QSHCN còn được hiêu là quan hệ pháp luật với đầy đủ các yếu tố chù thê, khách thê, nội dung. QSHCN chi được hình thành trên cơ sờ sự tác động của các quy phạm pháp luật về sờ hữu công nghiệp đối với các kết quả cùa hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, sản xuất,.
Trong đó, đối tượng QSHCN đối với nhãn hiệu là một chế định quan trọng, bời nhãn hiệu là tài sản vô hình rất có giá trị. Một nhãn hiệu mạnh có thê bảo đàm mức độ an toàn lâu dài, tốc độ phát triên lớn, với tỷ suất lợi nhuận cao cho doanh nghiệp. QSHCN đối với nhãn hiệu là một trong những loại tài sản trí tuệ, và QSHCN cho nhãn lũệu bao gồm toàn bộ các quyền lực sờ hữu mà chủ sờ híru có đối với loại tài sản này, điều này thường khó khăn và phức tạp đê thực hiện. Giá trị cùa nhãn hiệu không chi nam ờ việc sử dụng độc quyền mà còn ờ khã năng khai thác và bảo vệ quyền độc quyền đó.
Dựa trên những phân tích này, có thê định nghĩa quyền sờ hữu công nghiệp đối với nliãn hiệu như sau.