CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐÁNH DẤU ẨN I. Khái niệm: Hệ thống đánh dấu ẩn là kỹ thuật đưa vào nội dung của thông tin đa phương tiện một dữ liệu số khác (thông tin ẩn) dùng để xác nhận quyền sở hữu hay xác thực đối với sản phẩm này. Việc đưa dấu ẩn vào nội dung của thông tin đa phương tiện được thực hiện bằng một giải thuật thích hợp.
Thông thường giải thuật để chèn dấu ẩn vào thông tin đa phương tiện dựa vào giới hạn ở khả năng cảm nhận của người. Ý tưởng cơ bản của quá trình nhúng dấu ẩn là thêm một dấu thông tin vào dữ liệu gốc cần được đánh dấu thoả mãn điều kiện tín hiệu đánh dấu phải kín đáo, để cho người sử dụng không thấy được sự khác biệt giữa thông tin chứa chứa dấu ẩn và thông tin ban đầu cũng như không dễ dàng nhận thấy được sự hiện diện của dấu ẩn. Đồng thời, phải có tính bảo mật trong một dữ liệu được đánh dấu nhưng sau đó có thể giải mã từng phần hoặc toàn bộ từ dữ liệu này nếu khoá bảo mật được sử dụng cho quá trình khôi phục dấu ẩn. Hệ thống nhúng thông tin trên dữ liệu đa phương tiện 1.
Sơ đồ hệ thống Sơ đồ tổng quan môi trường hệ thống nhúng thông tin ẩn trên dữ liệu đa phương tiện: Lª Anh §øc – Líp CNTT2003 Lu©n v¨n th¹c sÜ 14 Thông tin Dữ liệu nén Các dạng tấn Nhúng hay chưa nén công và nhiễu Dữ liệu đã trên đường watermark ề Hàm nhúng Bộ nhúng Kênh truyền Bộ xác Thông tin Watermark thông định đã xác định Tùy chọn Thông số Dữ liệu Thông tin Khóa người dùng nguyên thủy ẩn Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống đánh dấu ẩn Hệ thống đánh dấu thông tin trên dữ liệu đa phương tiện về cơ bản gồm hai phần, thứ nhất là bộ phận nhúng thông tin-Watermark Embedder, thứ hai là bộ phận giải mã thông tin Watermark Detector. Bộ phận nhúng thông tin Watermark Embedder sử dụng để nhúng thông tin ẩn vào nội dung dữ liệu đa phương tiên-Multimedia Content. Còn bộ phận giải mã Watermark Detector được sử dụng để xác định sự hiện diện của tín hiệu thông tin ẩn-Watermark Signal. Thực thể khoá-Watermark Key được sử dụng trong suốt quá trình nhúng tín hiệu và tách tín hiệu ẩn.
Khoá Watermark Key có sự tương ứng 1-1 với tín hiệu Watermark Signal. Khoá này được giữ mật và chỉ có người được uỷ quyền mới có thể biết được và có thể xác định được sự hiện diện của dấu watermark khi sử dụng khoá. Ngoài ra quá trình truyền thông tin đa phương tiện trên môi trường mạng có thể bị nhiễu và các dạng thức tấn công, vì vậy kỹ thuật đánh dấu ẩn cũng cần quan tâm đến hai khía cạnh này. Tuy nhiên hai bộ phân chính cần Lª Anh §øc – Líp CNTT2003 Lu©n v¨n th¹c sÜ 15 được quan tâm đấy là, bộ phân thực hiện quá trình đánh dấu ẩn và bộ phân thực hiện quá trình tách dấu ẩn, chúng thể hiện ở hai sơ đồ sau đây: Thông tin ẩn Dữ liệu Hệ thống đánh Dữ liệu được ban đầu dấu thông tin đánh dấu ẩn Khoá mật/khoá công khai Mô hình đánh dấu ẩn nói chung Thông tin ẩn hoặc ảnh gốc Dữ liệu có Hệ thống khôi phục Dấu thông tin hoặc nhúng dấu ẩn dấu thông tin các độ đo khác Khoá mật/khoá Hệ thống giải mã dấu ẩn nói chung Hình 1.2: Hệ thống nhúng và tách dấu ẩn nói chung.
Dưa trên hai mô hình trên, chúng ta quan tâm đến ba bước trong quá trình thiết kế một phương thức đánh dấu ẩn: Lª Anh §øc – Líp CNTT2003 Lu©n v¨n th¹c sÜ 16 Bước 1: Quá trình thiết kế tín hiệu W được thêm vào dữ liệu gốc, thông thường tín hiệu thông tin W phụ thuộc vào một khoá K và thông tin ẩn I: W = f0 ( I , K ) Dấu thông tin W cũng có thể phụ thuộc vào dữ liệu gốc X khi nó được nhúng: W= f0 ( I ,K ,X ) Bước 2: Thiết kế phương thức đánh dấu ẩn để kết hợp dấu thông tin W với dữ liệu gốc X để thu được dữ liệu được đánh dấu Y: Y = f1 (X , W ) Bước 3: Thiết kế quá trình giải mã dấu thông tin tương ứng để phục hồi thông tin được đánh dấu trong một tín hiệu hỗn hợp bằng việc sử dụng khoá và có sự hỗ trợ của dữ liệu gốc: ∧ I = g( X ,Y ,K ) hoặc không có sự hỗ trợ của dữ liệu gốc: ∧ I = g(Y, K ) Hai bước đấu là quá trình thiết kế dấu thông tin và quá trình nhúng dấu thông tin thường được kết hợp làm một. Dữ liệu gốc phụ thuộc vào loại ứng dụng, có thể là dữ liệu nén hoặc không nén, hầu hết các phương pháp đưa ra đều làm việc trên dữ liệu không nén. Dấu thông tin có thể là một số hiệu, một đoạn văn bản hay một ảnh. Khoá ở đây được sử dụng để tăng cường tính bảo mật cho dữ liệu số.
Lª Anh §øc – Líp CNTT2003 Lu©n v¨n th¹c sÜ 17 Sơ đồ kỹ thuật hệ thống nhúng thông tin ẩn trong tập tin đa phương tiện: Tập tin đa phương tiện Văn gốc bản Tập tin đa Văn phương tiện bản được nhúng 101010. Dữ liệu ẩn Nhúng “Hello World” Nén Chạy tập tin đa Xử lý phương tiện 101010. Tách “Hello World” Hình 1.3: Sơ đồ kỹ thuật Theo sơ đồ kỹ thuật này, cấu trúc của dữ liệu bao gồm tập tin chứa dữ liệu ẩn gọi là tập tin mang, dữ liệu ẩn được nhúng trực tiếp vào tập tin mang. Việc xem hoặc nghe tập tin mang theo cách thông thường không thể phát hiện ra được dữ liệu ẩn.
Do vậy cần có công cụ phần cứng đặc biệt hoặc phần mềm để thực hiện việc nhúng và phát hiện dữ liệu ẩn. Theo sơ đồ này, về nguyên lý nhúng dữ liệu ẩn thì hiện nay có nhiều kỹ thuật nhúng dữ liệu ẩn. Về cơ bản thì các kỹ thuật này đều thực hiện việc ghi chèn thông tin yêu cầu vào dữ liệu hình hoặc âm thanh theo cách thức không làm hư hỏng dữ liệu gốc. Sự biến đổi của dữ liệu hầu như không thể nhận biết được.
Có ba cách thức chính để giấu thông tin vào tập tin đa phương tiện: Lª Anh §øc – Líp CNTT2003 Lu©n v¨n th¹c sÜ 18 - Cách đầu tiên là chèn thẳng thông tin vào tập tin đa phương tiện mang. - Cách thứ hai đòi hỏi thực hiện một số phân tích để tìm ra mức độ biến đổi màu sắc để đặt thông tin ẩn vào vùng khó phát hiện nhất. - Cách thứ ba là chèn thông tin ẩn một cách ngẫu nhiên vào tập tin mang. Các đặc trưng và tính chất: Sau đây là các tính chất của quá trình đánh dấu ẩn.
Các tính chất này cũng giúp chúng ta đánh giá chất lượng của giải thuật: Tính phổ dụng: Phương pháp đánh dấu ẩn cần được ứng dụng cho nhiều loại dữ liệu số. Tính vô hình (Imperceptibility): Khi đưa dấu ẩn vào chứa bên trong thông tin đa phương tiện, thì ta phải đưa theo giải thuật thích hợp để người dùng không nhận thấy sự thay đổi đó. Dấu ẩn phải không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng của thông tin đa phương tiện. Thông thường các bit ít cảm nhận được bởi con người sẽ được ưu tiên dùng để chứa dấu ẩn.
Để đạt được độ bền vững cao, một điều mong muốn là cường độ của dấu ẩn được nhúng càng cao càng tốt. Vì vậy trong quá trình thiết kế các phương pháp đánh dấu thông tin luôn luôn có sự cân nhắc giữa tính chất không thể cảm nhận được và tính bền vững của dấu ẩn. Để đảm bảo tính chất không thể cảm nhận của các thao tác gây ra bởi quá trình nhúng thông tin, một tiêu chuẩn sắp xếp được sử dụng đối với các phương pháp đánh dấu ẩn. Vấn đề này có thể tường minh hoặc không, dữ liệu gốc có thể biến đổi hoặc cố định.
Bởi vì đòi hỏi về tính không thể cảm nhận được, các mẫu(có thể là các điểm ảnh hoặc các hệ số biến đổi) được sử dụng cho quá trình nhúng dấu thông tin chỉ có thể được biến đổi ít đến giá trị trung bình của chúng. Lª Anh §øc – Líp CNTT2003 Lu©n v¨n th¹c sÜ 19 Tính bền vững (Robustness): Tùy vào từng loại ứng dụng mà ta có thể xem tính bền vững này bằng nhiều quan điểm khác nhau, nếu như đối với các ứng dụng dùng để bảo vệ quyền sở hữu thì dấu ẩn cần phải bền vững qua một số các hành động cập nhật nội dung thông tin. Với ứng dụng để chống làm giả hoặc chống lại sự thay đổi trên thông tin đòi hỏi dấu ẩn phải huỷ bỏ khi có các tác vụ này xảy ra. Để đảm bảo tính bền vững mặc dù chỉ biến đổi ít, thông tin đánh dấu phải luôn luôn phân tán một cách dư thừa trên nhiều mẫu của dữ liệu gốc, vì vậy chúng ta đưa ra khai niệm độ bền vững giao thoa(“holographic” robustness), có nghĩa là dấu ẩn luôn luôn có thể được phục hồi từ một phần nhỏ của dữ liệu được đánh dấu, nhưng quá trình phục hồi dấu thông tin có thể bền vững hơn nếu như có nhiều dữ liệu gốc có sẵn cho quá trình phục hồi.
Tính không phân chia (Inseparability): Sau khi thông tin đa phương tiện chứa dấu ẩn thì yêu cầu là phải rất khó hoặc không thể phân chia thành 2 thành phần riêng biệt lúc đầu. Bảo mật (Security): Sau khi đã đưa dấu ẩn vào thông tin đa phương tiện, thì yêu cầu là chỉ cho phép những người sử dụng có quyền mới chỉnh sửa và phát hiện được dấu ẩn điều này được thực hiện nhờ vào khoá trong giải thuật nhúng dấu ẩn vào thông tin và giải thuật phát hiện ra dấu ẩn trong thông tin đa phương tiện. Chẳng hạn như với nhiều mô hình, các tín hiệu ngẫu nhiên được nhúng vào dữ liệu như các dấu ẩn. Trong trường hợp này, quá trình mô tả và bộ sinh số hiệu ngẫu nhiên đầu tiên phải sử dụng khoá.
Có hai mức bảo mật, trong mức đầu tiên thì người sử dụng không được uỷ quyền không thể đọc, giải mã dấu ẩn và anh ta cũng không thể dò ra nếu một tập tin dữ liệu chứa dấu. Mức thứ hai cho phép người dùng không được uỷ quyền dò ra được nếu thông tin Lª Anh §øc – Líp CNTT2003 Lu©n v¨n th¹c sÜ 20 được đánh dấu. Tuy nhiên thông tin được nhúng không thể đọc được nếu không có khoá. Một số mô hình có thể nhúng nhiều dấu ẩn, một dấu ẩn được mã hoá dùng khoá công khai, một dấu ẩn dùng khoá mật.