lời mở đầu, kết luận và danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương chính như sau: Chƣơng 1: Lý luận về bảo mật thông tin khách hàng trong dịch vụ ngân hàng số và pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong dịch vụ ngân hàng số. Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong dịch vụ ngân hàng số ở Việt Nam hiện nay Chƣơng 3 : Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong dịch vụ ngân hàng số ở Việt Nam hiện nay 8 CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ BẢO MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG TRONG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG SỐ VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG TRONG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG SỐ 1. Khái quát chung về dịch vụ ngân hàng số 1.
Khái niệm và các loại dịch vụ ngân hàng số Trước khi tiếp cận với khái niệm ngân hàng số, chúng ta cùng tìm hiểu về ngân hàng điện tử bởi nhiều người thường nhầm lẫn, thậm chí đánh đồng khái niệm ngân hàng số (Digital Banking) với ngân hàng điện tử (E-Banking), vì cả hai đều có thể quản lý tài khoản giao dịch trực tuyến. Trên thực tế, ngân hàng số là bước phát triển cao hơn của ngân hàng điện tử. Ngân hàng điện tử, tên tiếng anh là Electronic Banking, viết tắt là E-banking, là một dạng của thương mại điện tử ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Nếu hiểu theo nghĩa trực quan dịch vụ ngân hàng điện tử là một loại dịch vụ ngân hàng được khách hàng thực hiện nhưng không phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng.
Nếu hiểu theo nghĩa rộng hơn đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông. Dưới đây là một số định nghĩa về dịch vụ ngân hàng điện tử dưới góc nhìn của các tổ chức kinh tế và góc độ pháp lý: Theo quyết định số 35/2006/QĐ-NHNN của thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành ngày 31 tháng 07 năm 2006 quy định hoạt động ngân hàng điện tử là hoạt động ngân hàng được thực hiện qua các kênh phân phối điện tử. Kênh phân phối điện tử là hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý dịch vụ được các tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Dịch vụ ngân hàng điện tử bao gồm tất cả các dạng của giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng (cá nhân hoặc tổ chức) dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã định nghĩa về dịch vụ ngân hàng điện tử là: “Các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân 9 phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối (Internet và các thiết bị truy nhập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động) được gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử”. Khác với ngân hàng điện tử, ngân hàng số hay Digital Banking là một thuật ngữ thường được sử dụng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng và đã được hình thành từ năm 2002. Ngân hàng số là hình thức ngân hàng số hoá mọi hoạt động và dịch vụ của ngân hàng truyền thống trên nền tảng website hoặc ứng dụng di động. Ngày nay, khi thế giới đã bước vào kỷ nguyên 4.0, ngân hàng số đã trở thành xu thế tất yếu hỗ trợ sự phát triển của nền kinh tế và thương mại toàn cầu.
Digital Banking đòi hỏi cao về công nghệ bao gồm sự đổi mới trong dịch vụ tài chính, chiến lược di động, k thuật số, AI, thanh toán, RegTech, dữ liệu, blockchain, API, kênh phân phối và công nghệ và một số thay đổi số khác. Digital Banking hay ngân hàng số là ngân hàng có thể thực hiện hầu hết các giao dịch ngân hàng bằng hình thức trực tuyến thông qua internet. Giao dịch của ngân hàng số không phải đến chi nhánh ngân hàng và giảm thiểu đến mức tối đa những thủ tục giấy tờ liên quan. Đồng thời tính năng của ngân hàng số có thể thực hiện mọi lúc mọi nơi không phụ vào thời gian không gian nên khách hàng hoàn toàn chủ động.
Khái niệm ngân hàng số có phạm vi rộng và toàn diện hơn ngân hàng điện tử. Theo đó mọi giao dịch ngân hàng đều được thực hiện qua Internet thông qua các hình thức như GPRS/3G/4G/Wifi, diễn ra mọi lúc mọi nơi.Giao dịch của ngân hàng số không phải đến chi nhánh ngân hàng và giảm thiểu đến mức tối đa những thủ tục giấy tờ liên quan. Đồng thời tính năng của ngân hàng số có thể thực hiện mọi lúc mọi nơi không phụ vào thời gian không gian nên khách hàng hoàn toàn chủ động, dễ dàng thực hiện mọi giao dịch trực tuyến như: Thanh toán; Chuyển khoản/Chuyển tiền; Vay ngân hàng; Gửi tiết kiệm; Nộp tiền vào tài khoản; Quản lý tài khoản, quản lý thẻ; Tham gia các sản phẩm đầu tư, bảo hiểm. 10 Nói tóm lại, ngân hàng số được hiểu là một loại hình thương mại về tài chính ngân hàng có sự trợ giúp của công nghệ thông tin, đặc biệt là máy tính và công nghệ mạng.
Ngân hàng số là hình thức ngân hàng số hóa tất cả những hoạt động và dịch vụ có thể thực hiện ở các chi nhánh ngân hàng bình thường. Căn cứ vào cách thức và công cụ thực hiện, dịch vụ ngân hàng số được phân loại như sau: Một là, Internet banking: giao dịch ngân hàng qua mạng toàn cầu Internet Internet banking là một hệ thống cho phép ngân hàng truy cập đến tài khoản ngân hàng, các thông tin và dịch vụ mà ngân hàng cung cấp thông qua một máy tính có kết nối mạng hay thông qua các thiết bị thông minh khác. Khách hàng sẽ tiết kiệm được thời gian và dành thời gian quý báu để sử dụng cho việc khác. Khách hàng có thể sử dụng dịch vụ 24/24.
Khách hàng có tài khoản tại ngân hàng với mã truy cập (username) và mật khẩu truy cập (password) do ngân hàng cung cấp có thể theo dõi các giao dịch phát sinh trên tài khoản của mình ở bất cứ nơi nào, bất cứ thời điểm nào. Qua dịch vụ Internet banking, khách hàng có thể thực hiện một số giao dịch như xem thông tin về tài khoản, chuyển tiền, xem thông báo lãi suất, biểu phí dịch vụ và những thông tin khác của ngân hàng, thanh toán các hóa đơn cho các hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng đã sử dụng, … Khách hàng sử dụng Internet Banking hiện nay có thể dễ dàng truy cập vào trang web cung cấp các dịch vụ ngân hàng thông qua các trình duyệt Internet. Mỗi khách hàng sẽ có một mật mã truy cập riêng (password) để vào chương trình này. Tuy nhiên, với tính chất bảo mật không cao bằng dịch vụ ngân hàng tại nhà hoặc Kiosk-banking, dịch vụ Internet-banking vẫn còn được cung cấp hạn chế và đòi hỏi quá trình xác nhận giao dịch phức tạp hơn.
Hai là, Phone banking: giao dịch ngân hàng qua mạng điện thoại Dịch vụ phone banking là hệ thống tự động trả lời các thông tin về dịch vụ, sản phẩm ngân hàng qua điện thoại hoạt động 24/24h. Đặc điểm của phone banking là hệ thống này hoàn toàn làm việc tự động dựa trên chương trình đã được lập trình sẵn. Dịch vụ phone banking cung cấp cho khách hàng một số tiện ích như: cung cấp tất cả các thông tin về sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng một cách đầy đủ, cập nhật; 11 cung cấp các thông tin hữu ích về các sản phẩm dịch vụ mới, thanh toán hoá đơn và chuyển tiền, tiếp nhận qua điện thoại các khiếu nại, thắc mắc từ khách hàng khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng. Khách hàng sẽ gọi điện thoại đến trung tâm cung cấp.
Thông qua các phím chức năng được khái niệm trước, khách hàng sẽ được phục vụ một cách tự động hoặc thông qua nhân viên tổng đài. Để được chứng thực là khách hàng hợp lệ, khách hàng sẽ phải nạp mã số nhận dạng cá nhân (PIN) hoặc mật khẩu bằng cách sử dụng các phím trên điện thoại. Ba là, Mobile Banking: Dịch vụ ngân hàng qua thiết bị di động Mobile banking là loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên công nghệ viễn thông không dây của mạng di động bao gồm việc thực hiện dịch vụ ngân hàng bằng cách kết nối điện thoại di động với trung tâm cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử và kết nối Internet trên điện thoại di động. Đây là một dịch vụ được cung cấp bởi một ngân hàng hoặc tổ chức tài chính khác cho phép khách hàng của mình để tiến hành các giao dịch tài chính từ xa bằng thiết bị di động như điện thoại di động hoặc máy tính bảng.
Nó sử dụng các phần mềm, thường được gọi là một ứng dụng được cung cấp bởi các tổ chức tài chính cho mục đích này. Dịch vụ ngân hàng qua thiết bị di động thường có sẵn trên cơ sở 24 giờ. Giao dịch qua mobile banking có thể bao gồm việc thu thập số dư tài khoản và danh mục các giao dịch gần nhất, thanh toán hóa đơn điện tử, và chuyển tiền giữa các tài khoản của khách hàng hoặc của người khác. Dịch vụ ngân hàng qua thiết bị di động làm giảm chi phí xử lý giao dịch bằng cách giảm nhu cầu cho khách hàng đến chi nhánh ngân hàng để rút tiền và tiền gửi giao dịch không dùng tiền mặt.
Bốn là, Home Banking: Dịch vụ ngân hàng tại nhà Home Banking là kênh phân phối dịch vụ của ngân hàng số, cho phép khách hàng thực hiện hầu hết các giao dịch chuyển khoản với ngân hàng (nơi khách hàng mở tài khoản) tại nhà, tại văn phòng mà không cần đến ngân hàng. Home-banking đã mang lại những lợi ích thiết thực: nhanh chóng - an toàn - thuận tiện. Khách hàng giao dịch với ngân hàng qua hệ thống mạng nội bộ của ngân hàng. Các giao dịch được tiến hành tại nhà thông qua hệ thống máy tính nối với hệ thống máy tính 12 của ngân hàng.