ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bạo lực là việc cố ý sử dụng vũ lực hoặc quyền lực để đe dọa hoặc chống lại một người hoặc một nhóm người dẫn đến hoặc có khả năng cao dẫn đến thương tích, tử vong, tổn hại tâm lý (1). Bạo lực được chia thành bạo lực thể chất (tấn công) và bạo lực tinh thần, trong đó gồm 5 loại: lạm dụng lời nói, bắt nạt, quấy rối gồm quấy rối tình dục và quấy rối chủng tộc và đe dọa (2). Trên thế giới, bạo lực đối với NVYT đang ngày càng phổ biến rộng rãi ở các nước đang phát triển và cả các nước phát triển. Theo WHO có 8% đến 38% NVYT bị bạo lực thể chất tại một số thời điểm trong nghề nghiệp của họ (3) và theo kết quả của một số nghiên cứu ở Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Saudi, Úc, Serbia và Ai cập cho thấy tỷ lệ bạo lực chung đối với NVYT tùy thuộc vào từng nghiên cứu nhưng đều dao động trong khoảng từ 45% đến 89% (4-8).
Trong mỗi nghiên cứu, người ta phát hiện ra rằng bạo lực bằng lời nói nhiều hơn bạo lực thể chất. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các nhóm đối tượng bị bạo lực nhiều nhất là NVYT ở bộ phận cấp cứu hoặc là Điều dưỡng. Ở nhiều nước trên thế giới, các chính sách đã được xây dựng để ngăn chặn bạo lực trong các cơ sở y tế và ở một số nước, những người sử dụng bạo lực với NVYT sẽ bị kết án tù (9). Tại Việt Nam, theo thống kê của Cục Quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế, từ năm 2010 đến hết 2017, cả nước ghi nhận có ít nhất 22 vụ việc bác sĩ bị người bệnh và người nhà người bệnh hành hung.
Các vụ việc xảy ra chủ yếu ở bệnh viện tuyến tỉnh (chiếm 60%), tuyến Trung ương chiếm 20%. Phần lớn đối tượng bị tấn công là các bác sĩ (chiếm khoảng 70%) và điều dưỡng (khoảng 15%). Có tới 90% vụ bạo lực xảy ra khi bác sĩ đang cấp cứu, chăm sóc cho người bệnh và 60% xảy ra khi đang giải thích cho người bệnh, người nhà (10). Bên cạnh đó, một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra về các loại hình bạo lực tại BV mà NVYT gặp phải đó là bạo lực về thể chất và bạo lực về tinh thần.
NVYT bị bạo lực về tinh thần chiếm tỷ lệ cao hơn và dao động trong khoảng từ 64,4% đến 73,2%, trong khi đó NVYT bị bạo lực về thể chất chiếm tỷ lệ trong khoảng từ 17% đến 41,5% chiếm tỷ lệ khá cao (11-13). 2 Trước thực tế trên, Bộ Y tế đã đề ra một số giải pháp nhằm đảm bảo an ninh BV, ngăn chặn triệt để tình trạng bạo lực đối với NVYT như: nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh; tiếp tục xây dựng đội ngũ bảo vệ an ninh BV chuyên nghiệp hướng đến xây dựng BV an toàn, tăng cường phối hợp giữa Ngành Y tế và công an, xử lý thích đáng các vụ việc nổi cộm để hạn chế và răn đe các đối tượng quá khích trong BV. Ngoài ra, cần xây dựng các hướng dẫn rõ ràng tránh hiểu lầm giữa người bệnh và NVYT, các hướng dẫn giúp NVYT ứng phó với những tình huống có khả năng xảy ra hoặc xảy ra bạo lực. Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang (được đổi tên thành Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang kể từ ngày 19/9/2022 theo Quyết định số 2566/QĐ-UBND ngày 14/9/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc thống nhất sử dụng tên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang) là BV đa khoa hạng 1, trực thuộc Sở Y tế Tiền Giang.000 giường bệnh với 37 khoa phòng và hơn 1.000 NVYT, bình quân số lượng bệnh nội trú khoảng 1.200, tỷ lệ NVYT/người bệnh chiếm khoảng 0,8%.
Khoa Cấp cứu có 92 NVYT đang công tác, bình quân khoa tiếp nhận khoảng 200 ca cấp cứu/ngày, tỷ lệ NVYT/người bệnh chiếm khoảng 0,46% chỉ chiếm khoảng hơn 50% so với tỷ lệ chung của BV. Điều này cho thấy sự quá tải tại Khoa dẫn đến áp lực của NVYT tăng cao sẽ không tránh khỏi sai sót trong quá trình làm việc. Trong năm 2020 và năm 2021, BV ghi nhận khoảng 39 trường hợp NVYT bị bạo lực tại nơi làm việc, trong đó tại Khoa Cấp cứu có khoảng 29 trường hợp, đối tượng gây ra chủ yếu là người nhà người bệnh, đây mới chỉ là số liệu chung, chưa phân tích cụ thể được các tỷ lệ về bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần cũng như tần suất, thời gian, phản ứng của NVYT như thế nào? Bệnh viện đã có một số giải pháp để phòng ngừa bạo lực như tăng cường bảo vệ tại Khoa kết hợp với lực lượng Công an, tuy nhiên tình trạng bạo lực NVYT vẫn xảy ra. Câu hỏi đặt ra là thực trạng bạo lực đối với NVYT tại Khoa Cấp cứu như thế nào? Những giải pháp hiệu quả nào để để phòng ngừa bạo lực xảy ra? Để trả lời cho câu hỏi trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Bạo lực đối với nhân viên y tế làm việc tại Khoa Cấp cứu Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2022 và một số giải pháp”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng bạo lực đối với nhân viên y tế làm việc tại Khoa Cấp cứu Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang 06 tháng đầu năm 2022. Phân tích một số giải pháp có thể thực hiện để phòng ngừa bạo lực đối với nhân viên y tế làm việc tại Khoa Cấp cứu Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2022. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm 1. Nhân viên y tế Theo WHO (2006), NVYT là những người tham gia vào các hoạt động với mục đích ban đầu là tăng cường sức khỏe bao gồm những người trực tiếp cung cấp dịch vụ (Bác sĩ, Dược sĩ, Điều dưỡng, Kỹ thuật viên) và những người làm các công việc khác ví dụ quản lý, phục vụ (Y tế công cộng, kinh tế, luật, công tác xã hội, thợ điện, nước, bảo vệ, hộ lý…), không làm trực tiếp nhưng sự đóng góp của họ là không thể thiếu được. Trong nghiên cứu này NVYT là những Bác sĩ, Điều dưỡng, Hộ lý và Bảo vệ công tác tại Khoa Cấp cứu. Khái niệm Bạo lực là hành vi cố ý sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hoặc quyền lực để hủy hoại mình, chống lại người khác hoặc một nhóm người, một tập thể cộng đồng làm họ bị tổn thương hoặc có nguy cơ tổn thương, hoặc tử vong hoặc sang chấn tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển của họ hoặc gây ra các ảnh hưởng khác (14).
Phân loại Bạo lực có thể được phân loại theo phạm vi hoặc hành vi (15), bạo lực theo phạm vi bao gồm: - Bạo lực tự thân: hành vi tự tự sát, ngược đãi bản thân. - Bạo lực giữa các cá nhân: bạo lực gia đình và bạo lực tình dục, bạo lực cộng đồng. - Bạo lực giữa các nhóm, tập thể: bạo lực xã hội, bạo lực chính trị và bạo lực kinh tế, các loại hình bạo lực này thường có động cơ rõ ràng bởi số lượng lớn cá nhân hoặc của tổ chức nào đó. Bạo lực theo hành vi bao gồm: bạo lực thể chất, bạo lực tình dục, bạo lực tinh thần và kỳ thị/phân biệt đối xử.
Bạo lực tại nơi làm việc 1. Khái niệm 5 Theo Wynne, Clarkin, Cox và Griffiths (1997), bạo lực tại nơi làm việc được xem là sự cố mà người ta bị lạm dụng, đe dọa hoặc tấn công trong các tình huống liên quan đến công việc của họ, việc liên quan này được thể hiện một cách rõ ràng hoặc tìm ẩn đối với sự an toàn sức khỏe của họ. Định nghĩa này không phân biệt giữa đồng nghiệp, khách hàng hoặc người lạ hoàn toàn là những người chịu trách nhiệm cho một hành động bạo lực (16). Điều quan trọng cần phải nhấn mạnh là bạo lực có thể thuộc về thể chất cũng như tâm lý bao gồm cả các hiện tượng như bắt nạt và lừa đảo, cũng như quấy rối trên cơ sở giới tính, chủng tộc và tình dục.
Theo Cơ quan Lao động Quốc tế (ILO), bạo lực tại nơi làm việc là bất kỳ hành động, sự việc hoặc hành vi ứng xử không phù hợp, trong đó một người bị tấn công, đe dọa, tổn hại hoặc tổn thương trong quá trình làm việc (17). Theo Einarsen, Hoel, Zapf và Cooper (2003), bạo lực tại nơi làm việc là hành vi tiêu cực lặp đi lặp lại và có hệ thống trong một thời gian dài được đồng nghiệp hoặc cấp trên/quản lý hướng đến nhân viên trong tình huống nạn nhân cảm thấy khó khăn trong việc tự bảo vệ mình hoặc trốn thoát khỏi tình hình này hoặc hậu quả của nó dẫn đến tổn hại tâm lý. Hơn nữa, bạo lực được coi là cả nguyên nhân và hậu quả của căng thẳng trong công việc (18). Theo tổ chức Quản lý An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp (OSHA), bạo lực tại nơi làm việc là bất kỳ hành động hoặc đe dọa nào về thể chất, quấy rối, bắt nạt hoặc hành vi gây rối khác xảy ra tại nơi làm việc bao gồm nhiều mức độ, từ những đe dọa và lạm dụng bằng lời nói đến những hành vi tấn công vật lý và thậm chí giết người, nó có thể ảnh hưởng và liên quan đến người lao động, khách hàng, người đi cùng và khách tham quan (15).
Tóm lại, hầu hết các định nghĩa về bạo lực tại nơi làm việc đều đề cập đến hành vi bạo lực thể chất và tinh thần, dao động từ mức độ thấp như sự thiếu tôn trọng, sự xúc phạm đe dọa bằng lời nói đến mức độ cao hơn như bắt nạt, quấy rối tình dục, phân biệt đối xử, tấn công vật lý và giết người. Vì thế, trong nghiên cứu của chúng tôi những khía cạnh về bạo lực thể chất như tấn công vật lý (đánh, đập, đá, tát, đâm, bắn súng.) và bạo lực tinh thần (xúc phạm bằng lời nói, bắt nạt, quấy rối, đe dọa) sẽ được đưa vào trong đo lường bạo lực tại nơi làm việc của NVYT. Phân loại Theo Tổ chức ILO, dựa theo đối tượng gây ra bạo lực chia bạo lực tại nơi làm việc thành hai loại (17): - Bạo lực nội bộ: xảy ra giữa những người lao động với nhau kể cả người quản lý, giám sát. - Bạo lực từ bên ngoài: xảy ra giữa những người lao động kể cả người quản lý, giám sát với bất kỳ người nào khác bên ngoài tổ chức có mặt tại nơi làm việc.