Chương 1: Lý luận về bảo hộ nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam và Hiệp định EVFTA Chương 2: Thực trạng và giải pháp thực hiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu theo Hiệp định EVFTA 3 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ HIỆP ĐỊNH EVFTA 1. KHÁI QUÁT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU 1. Khái niệm nhãn hiệu 1. Khái niệm nhãn hiệu theo Luật quốc tế Nhãn hiệu là một khái niệm có ý nghĩa quốc tế.
Trong nhóm đối tượng quyền sở hữu công nghiệp, nhãn hiệu được xem là phổ biến nhất trong cuộc sống. Theo Công ước Paris năm 1983 quy định: “Điều kiện nộp đơn và đăng ký nhãn hiệu hàng hoá phải được quy định tại luật quốc gia của mọi nước thành viên của Liên minh. Tuy vậy, một đơn đăng ký nhãn hiệu do công dân của một nước thành viên của Liên minh nộp tại bất cứ nước nào trong Liên minh cũng không thể bị từ chối - hoặc một đăng ký nhãn hiệu cũng không thể bị huỷ bỏ - với lý do rằng việc nộp đơn, đăng ký, hoặc gia hạn tại nước xuất xứ không có hiệu lực. Một nhãn hiệu đã đăng ký hợp lệ tại một nước thành viên của Liên minh được coi là không phụ thuộc vào các nhãn hiệu đăng ký tại các nước thành viên khác của Liên minh, kể cả nước xuất xứ”1.
Như vậy, Công ước Paris không đưa ra khái niệm về nhãn hiệu mà dành việc này cho pháp luật các quốc gia thành viên. Dưới góc độ pháp lý, đến năm 1994, khái niệm "nhãn hiệu" mới chính thức được đưa ra tại Hiệp định bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại hay còn gọi là Hiệp định TRIPS: “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hoá. Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ tương ứng, các Thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng.
Các Thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký 1 Công ước Paris 1983, Bảo hộ sở hữu công nghiệp, Điều 6. 4 là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được”2. Từ đây, bảo hộ nhãn hiệu đã được thừa nhận trên phạm vi quốc tế. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) thì định nghĩa nhãn hiệu là một dấu hiệu đặc trưng để chỉ rõ một loại hàng hóa hay một loại dịch vụ nào đó được một cá nhân hay doanh nghiệp nhất định sản xuất hay cung cấp3.
Theo định nghĩa này, WIPO cho rằng nhãn hiệu ngoài chức năng là phân biệt các loại hàng hóa hay dịch vụ thì nhãn hiệu còn là dấu hiệu xác định nhà sản xuất hay cung cấp loại dịch vụ đó. Khái niệm về nhãn hiệu theo pháp luật Châu Âu Trong lịch sử, khái niệm nhãn hiệu được sử dụng ở Anh năm 1977 và sau đó lan rộng trên nhiều nước châu Âu. Năm 1988, Chỉ thị 89/104/EEC của Hội đồng châu Âu để điều chỉnh luật của các quốc gia thành viên liên quan đến nhãn hiệu thương mại quy định: “Một nhãn hiệu cộng đồng có thể gồm bất kỳ dấu hiệu nào được trình bày một cách rõ ràng và chi tiết (represented graphically), đặc biệt là các từ, bao gồm tên riêng, các phác hoạ hình ảnh, chữ viết, chữ số, hình dáng của hàng hoá hoặc của bao bì sản phẩm, với điều kiện là những dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác”4. Điều này có nghĩa nhãn hiệu không chỉ có dấu hiệu nhìn thấy được mà dấu hiệu như mùi vị, âm thanh đều có thể đăng ký bảo hộ nhãn hiệu.
Khái niệm nhãn hiệu theo theo pháp luật Việt Nam Ở Việt Nam, các quy định về bảo hộ nhãn hiệu ra đời từ rất sớm, thế nhưng phải đến khi Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành vào năm 2005 mới có những quy định cụ thể về bảo hộ nhãn hiệu. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019 định nghĩa “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”5. Như vậy, nhãn hiệu được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam, phải đáp ứng điều kiện vừa nêu. Các loại nhãn hiệu 2 Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ, (1994), khoản 1, Điều 15.
3 WIPO (2004), Intellectual Property Handbook: policy, law and use, WIPO Publication, pp. 4 Chỉ thị 89/104/EEC, (1988), để điều chỉnh luật của các Quốc gia Thành viên liên quan đến nhãn hiệu thương mại của Hội đồng Châu Âu ngày 21 tháng 12 năm 1988. 5 Quốc hội, Luật Sở hữu trí tuệ, khoản 16, Điều 4. 5 Nhãn hiệu chiếm một số lượng vô cùng lớn trong cuộc sống.
Tùy theo mục đích, đối tượng, chức năng hay tính chất nhãn hiệu, những nhà lập pháp hay nghiên cứu pháp luật chia nhãn hiệu thành nhiều loại khác nhau. Căn cứ vào dấu hiệu được bảo hộ Xét trên căn cứ vào dấu hiệu được bảo hộ, nhãn hiệu chia thành nhãn hiệu từ ngữ, nhãn hiệu hình ảnh và nhãn hiệu kết hợp. Nhãn hiệu từ ngữ là tập hợp các chữ cái, có thể là các con số, có khả năng phát âm có thể có nghĩa hoặc không có nghĩa. Ví dụ nhãn hiệu CHERRYGOLD số đơn 4-2020-33681 của Công ty TNHH thương mại - sản xuất GNC, thuộc nhóm sản phẩm 05 thuốc trừ sâu; chế phẩm diệt trừ thực vật gây hại; chế phẩm diệt trừ côn trùng gây hại; chất diệt loài gây hại; thuốc dùng cho ngành thủy hải sản; thuốc thú y6.
Nhãn hiệu hình ảnh là dấu hiệu bằng hình ảnh, hình vẽ, loại nhãn hiệu bằng hình ảnh có sức lôi kéo người tiêu dùng bằng thị giác. Nhãn hiệu kết hợp là nhãn hiệu bao gồm cả từ ngữ và hình ảnh. Đây là loại nhãn hiệu phổ biến hiện nay bởi nó vừa lôi kéo người tiêu dùng bằng thính giác và bằng thị giác. Ví dụ nhãn hiệu COCA-COLA là kết hợp giữa chữ COCA-COLA và hình chai nước7.
Căn cứ vào chức năng của nhãn hiệu Trong cuộc sống, nhãn hiệu đã đem lại rất nhiều lợi ích cho chủ sở hữu và người tiêu dùng thông qua chức năng của mình. Căn cứ vào chức năng của nhãn hiệu, nhãn hiệu được chia thành nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu chứng nhận. Nhãn hiệu tập thể là “nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó”8. Ví dụ nhãn hiệu xoài Cao Lãnh9.
Nhãn hiệu chứng nhận là “nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn 6 Phục lục 1, hình 1. 7 Phục lục 1, hình 2. 8 Quốc hội, Luật Sở hữu trí tuệ, khoản 17, Điều 4. 9 Phục lục 1, hình 3.
Ví dụ, nhãn hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao11. Đối với Liên minh Châu Âu, nhãn hiệu chứng nhận được ghi nhận tại Quy định số 2017/100112. Theo đó, nhãn hiệu chứng nhận châu Âu được định nghĩa là nhãn hiệu “có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ được chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận về vật liệu, phương thức sản xuất hàng hóa hoặc hoạt động dịch vụ, chất lượng, tính chính xác hoặc các đặc tính khác, ngoại trừ nguồn gốc địa lý, từ hàng hóa và dịch vụ không được chứng nhận”. Về bản chất, nhãn hiệu này nhằm xác định rằng hàng hóa và dịch vụ mang nhãn hiệu chứng nhận đó tuân theo một số các tiêu chuẩn nhất định trong các quy định về sử dụng và được kiểm soát theo trách nhiệm của chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận, không phụ thuộc đó là nhà sản xuất hay cung cấp hàng hóa.
Như vậy định nghĩa về nhãn hiệu chứng nhận Việt Nam và EU cơ bản giống nhau, đều có một tiêu chuẩn đánh giá công nhận. Nhãn hiệu liên kết là “các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau”13. Ví dụ nhãn hiệu liên kết của tập đoàn VinGroup14. Căn cứ vào danh tiếng, uy tín của nhãn hiệu Một trong những điểm nổi bật của nhãn hiệu là căn cứ, uy tín của nhãn hiệu đó, Căn cứ vào danh tiếng, tuy tín của nhãn hiệu thì nhãn hiệu được chia thành nhãn hiệu nổi tiếng và nhãn hiệu không nổi tiếng hay còn gọi là nhãn hiệu thông thường.
Ví dụ, nhãn hiệu Pepsi15. Nhãn hiệu nổi tiếng được Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) nhấn mạnh: “Để xác định một nhãn hiệu hàng hóa có nổi tiếng hay không, phải xem xét danh tiếng của nhãn hiệu hàng hóa đó trong bộ phận công chúng có liên quan, kể cả danh tiếng tại nước thành viên tương ứng đạt được nhờ hoạt động quảng cáo nhãn hiệu hàng hóa đó”.Theo pháp luật Việt Nam thì nhãn hiệu nổi tiếng là “nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam”16. Điều 10 Quốc hội, Luật Sở hữu trí tuệ, khoản 18, Điều 4. 11 Phục lục 1, hình 5.
12 Quy định số 2017/1001 của Liên minh Châu Âu. 13 Quốc hội, Luật Sở hữu trí tuệ, khoản 19, Điều 4. 14 Phụ lục 1, hình 4. 15 Phục lục 1, hình 6.
16 Quốc hội, Luật Sở hữu trí tuệ, khoản 20, Điều 4. 7 này có thể được hiểu rằng tính chất biết đến đó phải thực sự diễn ra ở mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam, nghĩa là dù chỉ cần một nơi hoặc một vài nơi.