CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÃN HIỆU MÙI HƯƠNG Nhãn hiệu đã được sử dụng từ rất lâu trên thế giới. Từ thời cổ đại, khi con người trao đổi hàng hoá, họ phải đánh dấu lên hàng hoá của mình để phân biệt với hàng hoá của người khác, đó là nhãn hiệu. Nhãn hiệu đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của công nghiệp hoá, tạo tiền đề và định hướng phát triển cho các lĩnh vực khác. Sự tồn tại của nhãn hiệu làm cho quá trình lựa chọn hay ra quyết định mua hàng trở nên nhanh chóng, yên tâm hơn khi người tiêu dùng có thể nhanh chóng nhận ra nguồn gốc sản phẩm dựa trên nhãn hiệu.
Điều này có thể giúp tiết kiệm thời gian bằng cách dựa vào thông tin do nhãn hiệu cung cấp. Vì vậy, việc nghiên cứu lý luận chung về nhãn hiệu sẽ xây dựng nên bức tranh tổng quát về các loại nhãn hiệu truyền thống và nhãn hiệu phi truyền thống.1 Khái niệm nhãn hiệu và nhãn hiệu mùi hương Việc nghiên cứu lý luận chung về nhãn hiệu mùi được bắt đầu từ việc phân tích các khái niệm trên cơ sở các điều ước quốc tế, hệ thống pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam. Điều này mang lại góc nhìn khái quát để từ đó thuận lợi hơn trong việc đánh giá, nghiên cứu.1 Khái niệm nhãn hiệu Năm 1967, Tổ chức sở hữu trí tuệ trên thế giới (WIPO) ra đời, mở ra một con đường phát triển mới liên quan đến các tài sản trí tuệ từ con người. Khi đó, WIPO đã đưa ra định nghĩa về nhãn hiệu: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của doanh nghiệp công nghiệp hoặc thương mại hoặc một nhóm doanh nghiệp đó.
Dấu hiệu này có thể là một hoặc nhiều từ ngữ, chữ, số, hình ảnh, hình, biểu tượng màu sắc hoặc sự kết hợp các màu sắc, hình thức hoặc sự trình bày đặc biệt trên bao bì, bao gói sản phẩm. Dấu hiệu này có thể là sự kết hợp của nhiều yếu tố nói trên. Nhãn hiệu hàng hoá chỉ được chấp nhận bảo hộ nếu nó chưa được cá nhân hoặc doanh nghiệp nào khác ngoài chủ sở hữu nhãn hiệu đó sử dụng hoặc nhãn hiệu đó 10 không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác đã được đăng ký trước đó cho cùng loại sản phẩm”7 Bên cạnh đó, Hiệp định TRIPS - là một trong các điều ước quốc tế được nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận về việc điều chỉnh các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ có quy định về nhãn hiệu như sau: “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hoá.
Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng, các Thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng. Các Thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được” (khoản 1 Điều 15 TRIPS). Như vậy, Hiệp định TRIPS đã đưa ra một định nghĩa có tính bao quát các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu như bản chất, chức năng và các yếu tố cấu thành nên điều kiện bảo hộ nhãn hiệu. Liên minh châu Âu (EU): Trong Chỉ thị 89/104/EEC năm 1998 và Quy chế nhãn hiệu CMTR năm 1993 quy định: “Nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng biểu thị bằng đồ hoạ, đặc biệt là các từ ngữ bao gồm tên riêng, bản thiết kế, chữ cái, chữ số, hình dạng hoặc bao bì của hàng hoá, miễn là các dấu hiệu đó có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh này và chủ thể kinh doanh khác.” Ngoài ra, tại Điều 4 Quy định số 40/1994 ngày 20/12/1993 của Hội đồng châu Âu thì nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ là: “Một nhãn hiệu công cộng có thể bao gồm bất kỳ dấu hiệu nào được trình bày một cách rõ ràng và chi tiết, đặc biệt là các từ, bao gồm tên tiêng, các phác hoạ hình ảnh, từ ngữ, các chữ số, hình dáng của hàng hoá hoặc của bao bì hàng hoá mà các dấu hiệu đó có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể kinh doanh khác”.
7 Chương 2, Mục Nhãn hiệu, Cẩm nang sở hữu trí tuệ, chính sách, pháp luật và áp dụng, Tổ chức sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), tháng 6/2001. 11 Như vậy, theo quy định của EU thì “nhãn hiệu” bao gồm bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt dưới dạng đồ hoạ, là tên riêng, bản thiết kế, chữ cái, chữ số, hình dạng, bao bì”. Phải chăng pháp luật của EU đã có cái nhìn mở rộng, thực tế hơn đối với các nhãn hiệu cần được bảo hộ, đó có thể là các nhãn hiệu phi truyền thống như mùi hương, âm thanh, mùi vị, hình ba chiều… miễn là các dấu hiệu đều có khả năng phân biệt và được trình bày rõ ràng, chi tiết. Tuy nhiên, thực tế việc phân biệt nhãn hiệu bằng cách trực quan rất khó xác định, đặc biệt là nhãn hiệu mùi hương.
Thực chất mùi hương có tính vô hình, tức là chúng ta không thể nhìn thấy nó nhưng có thể cảm nhận nó qua các giác quan và bằng tính chủ quan của mình, vì vậy việc trình bày bản mô tả mùi hương hay công thức mùi hương thì vẫn là một trong những thách thức để có thể bảo hộ được nhãn hiệu mùi hương. Nhìn nhận thực tế mà việc bảo hộ nhãn hiệu mùi gặp phải, thì đến năm 2016, EU đã thực hiện cải cách pháp luật để có thể mở rộng cơ hội hơn đối với các loại nhãn hiệu phi truyền thống. Quy định sửa đổi số 2015/2424 của châu Âu đã chính thức được ban hành và có hiệu lực vào ngày 23/03/20168. Bên cạnh đó, Quy chế Nhãn hiệu thương mại cộng đồng (CTMR) được đổi tên thành Quy chế Nhãn hiệu thương mại EU (EUTMR) và có hiệu lực từ ngày 01/10/2017.
Quy chế này sửa đổi nhiều nội dung về bảo hộ nhãn hiệu của EU, trong đó nổi bật là việc loại bỏ yêu cầu biểu thị bằng đồ hoạ đối với nhãn hiệu. Bằng cách khác, nhãn hiệu đăng ký có thể là tất cả các dấu hiệu có thể được thể hiện trên “Sổ đăng ký nhãn hiệu của Liên minh Châu Âu theo cách cho phép các cơ quan có thẩm quyền và công chúng có thể xác định được đối tượng bảo hộ rõ ràng và chính xác9”. Lúc này, theo pháp luật của EU thì nhãn hiệu được phép thể hiện dưới bất kỳ hình thức thích hợp nào và có thể sử dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ mà không nhất thiết phải biểu thị bằng đồ hoạ10. Như vậy, Việt Nam đã tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm các quốc gia trên thế giới về việc đưa ra khái niệm nhãn hiệu tại khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa 8 Quy định (EU) 2015/2424 của Hội đồng Nghị viện châu Âu họp ngày 16/12/2015 sửa đổi Quy chế của Hội đồng (EC) 2072009 về nhãn hiệu thương mại cộng đồng và Quy định của Ủy ban(EC) 2868.
9 <http://eur-lex.eu/legal-content/EN/TXT/?qid=1506417891296&uri=CELEX:32017R1001>, truy cập ngày 30/03/2023. 10 Lời nói đầu của Chỉ thị (EU) 2015/2436 Hội đồng Nghị viện Châu Âu họp ngày 16/12/2015 12 đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022 (sau đây gọi là Luật Sở hữu trí tuệ): “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Điều 72 Luật quy định về điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ: (1) Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; (2) có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác11. Như vậy, các điều ước quốc tế chỉ cung cấp sự bảo hộ cơ bản đối với nhãn hiệu, đặc biệt là nhãn hiệu phi truyền thống, họ đặt ra các yêu cầu cho các thành viên phải nỗ lực nhằm thực hiện đăng ký bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, mùi hương.
Cho đến thời điểm hiện tại, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam mới chỉ quy định bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, chưa xem xét dấu hiệu mùi hương dưới danh nghĩa nhãn hiệu. Dẫu biết rằng, việc bảo hộ nhãn hiệu mùi hương cần đòi hỏi hành lang pháp lý chặt chẽ từ thủ tục đăng ký đến điều kiện, cơ chế bảo hộ. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đã và đang xem xét bảo hộ nhãn hiệu mùi hương nhằm tạo nên các cơ hội mới cho doanh nghiệp, thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực này và tạo nên xu hướng mới trên thế giới.2 Khái niệm và đặc điểm của nhãn hiệu mùi hương Với sự phát triển của công nghệ hiện đại khi mà các sàn thương mại điện tử hoạt động hết công suất, buôn bán, trao đổi rất nhiều mặt hàng. Lúc này người mua dần dần trở nên khó tính hơn và đặt ra các yêu cầu khắt khe hơn đối với sản phẩm mà họ lựa chọn.
Vì lẽ thế, các nhà sản xuất, doanh nghiệp cố gắng, nỗ lực hết mình để tìm ra sự khác biệt độc đáo cho hàng hoá của mình và mùi hương cũng là cách tạo nên sự khác biệt ấy. Khách hàng có thể không nhớ tên gọi của sản phẩm nhưng lại có thể dựa vào mùi hương của sản phẩm đó để nhận biết và phân biệt. Do đó, việc nghiên cứu nhãn hiệu mùi hương sẽ góp phần làm nổi bật vai trò và đặc điểm của loại nhãn hiệu này so với các nhãn hiệu phi truyền thống khác. 11 Xem thêm Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019.
13 a) Khái niệm nhãn hiệu mùi hương Trên thực tế việc bảo hộ nhãn hiệu mùi hương gặp khá nhiều khó khăn và hầu như các nước trên thế giới chỉ chấp nhận bảo hộ nhãn hiệu là các dấu hiệu nhìn thấy được hoặc thể hiện được bằng đồ hoạ hay biểu đồ.