MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Lịch sử loài người là quá trình tìm kiếm, vươn tới cái mới tốt đẹp hơn và trong quá trình đó, nhu cầu kiếm tìm phương thức tổ chức quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo dân chủ và nhân quyền là một nhu cầu quan trọng của con người trong cộng đồng xã hội. Trong dòng chảy lịch sử ấy, học thuyết về Nhà nước pháp quyề n là kết tinh của tri thức nhân loại, là kết quả quá trình tìm tòi, sáng tạo của nhân loại hướng tới mô hình tổ chức quyền lực nhà nước trên nền tảng chủ quyền nhân dân. Đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền là "vị trí tối thượng của Hiến pháp, pháp luật" trong đời sống chính trị, pháp lý của quốc gia.
Từ tiền đề này nảy sinh hệ luận: cần xây dựng Hiến pháp và hệ thống pháp luật đồng bộ, khả thi, gần pháp luật tự nhiên đồng thời phải có phương thức để bảo vệ Hiến pháp, pháp luật một cách hiệu quả; đổ i mới tổ chức và nâng cao hiê ̣u lực, hiệu quả hoa ̣t đô ̣ng của cơ quan nhà nước; xây dựng và hoàn thiê ̣n cơ chế kiể m soát quyền lực nhà nước hiệu lực hiệu quả; xây dựng và từng bước hoàn thiện phương thức đảm bảo dân chu,̉ quyề n con người… Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia theo đuổi mục tiêu xây dựng chế độ dân chủ, Hiến pháp được xác định là bản văn chính trị - pháp lý tối cao, vừa là văn bản ghi nhận tuyên ngôn về tính hợp pháp của một chế độ, vừa là đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất và có vai trò tối quan trọng trong tổ chức, kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích của con người. Chủ nghĩa hiến pháp là tiền đề, xuất phát điểm của lý thuyết về Nhà nước pháp quyền. Vì vậy, bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp trở thành một đòi hỏi tất yếu của Nhà nước pháp quyền. Trên thực tế tất cả các quốc gia có Hiến pháp đều tìm kiếm, xây dựng một mô hình bảo hiến với mục tiêu đảm bảo dân chủ, nhân quyền và thực tế chỉ ra rằng không có một khuôn mẫu chung “nhất thành bất biến” về mô hình bảo hiến cho mọi quốc gia, mỗi 7 z quốc gia dựa trên các điều kiện về chính trị - pháp lý, kinh tế, văn hóa - xã hội, lịch sử truyền thống của mình mà xây dựng mô hình bảo hiến phù hợp.
Trong tiến trình đổi mới , phát triển và hội nhập quốc tế của Việt Nam hướng tới mục tiêu xây dựng xã hội: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ” [17 - tr.70], việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là một đặc trưng và là yêu cầ u tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Những điề u này đươ ̣c ghi nhâ ̣n trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011): “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”, “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước.
Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực” [17- tr. 84, 85] và trong văn bản có giá trị pháp lý tối cao: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyề n xã h ội chủ nghĩa của nhân dân , do nhân dân , vì nhân dân… " (Điề u 2 Hiế n pháp 1992). Tuy nhiên, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam là vấn đề hoàn toàn mới và phức tạp, đòi hỏi Việt Nam vừa tiến hành xây dựng, vừa tổ ng kế t , rút kinh nghiệm từ thực tiễn để củng cố và phát triển lý luận. Xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyề n xã hô ̣i chủ nghiã của nhân dân , do 8 z nhân dân và vì nhân dân , xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh của Việt Nam hiê ̣n nay, đòi hỏi phải bảo đảm vị trí tối thượng của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật, bảo đảm các chủ thể trong xã hô ̣i tôn tro ̣ng và nghiêm chin̉ h chấ p hành quy đinh ̣ của Hiến pháp, đặc biệt là các chủ thể có quyền lực từ Hiến pháp.
Bảo vệ Hiến pháp chính là bảo vệ nền tảng chính trị - pháp lý của quốc gia, của chế độ; bảo vệ chủ quyền nhân dân và quyền con người; bảo đảm sự ổn định và phát triển của đất nước. Vì vậy, bảo vệ Hiến pháp là bảo vệ lợi ích cao nhất, trường tồn và bền vững nhất của đất nước, là nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra nhiệm vụ: “Xác định cơ chế bảo vệ Hiến pháp, định rõ cơ chế, cách thức bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và luật”, nghiên cứu “xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”, “xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp” [16 - tr.126,127]; Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, phần đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế, cơ chế, cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”, “Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) phù hợp với tình hình mới. Tiếp tục xây dựng từng bước hoàn thiện cơ chế, kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” [17 - tr.
9 z Trên thực tế, vấn đề bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp trong viê ̣c điề u chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng ở Việt Nam đã đươ ̣c đề câ ̣p ngay từ bản Hiến pháp đầ u tiên (Hiế n pháp năm 1946) và tiếp tục được khẳng định , hoàn thiê ̣n, phát triển trong các bản Hiến pháp tiế p theo (Hiế n pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 và Hiế n pháp năm 1992 sửa đổ i năm 2001), đồ ng thời, đươ ̣c cụ thể hóa trong các văn bản luâ ̣t về tổ chức bô ̣ máy nhà nước , Luâ ̣t về hoa ̣t đô ̣ng giám sát của Quốc hội, Luâ ̣t ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luâ ̣t ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hô ̣ i đồ ng nhân dân , Ủy ban nhân dân, Luâ ̣t ký kế t , gia nhâ ̣p và thực hiê ̣n điề u ước quố c tế , Nô ̣i quy kỳ ho ̣p Quố c hô ̣i, Quy chế hoa ̣t đô ̣ng của Ủy ban thường vụ Quốc hội , Quy chế hoa ̣t đô ̣ng của Hô ̣i đồ ng dân tô ̣c và các Ủ y ban của Quốc hội… Với cơ sở pháp lý hiê ̣n hành ở Việt Nam đã hình thành phương thức bảo hiến với tính chất và mục tiêu là bảo đảm vị trí, vai trò tối cao của Hiến pháp thông qua hoạt động giám sát, kiểm tra, tự kiểm tra của các chủ thể trong bộ máy nhà nước khá cụ thể và toàn diện, trong đó tâ ̣p trung chủ yếu vào việc giám sát tính hợp hiến , hơ ̣p pháp của các văn bản quy phạm pháp luật; giám sát tính hợp hiến trong việc ký kết , gia nhâ ̣p và thực hiê ̣n các điề u ước quốc tế ; giám sát việc giải quyết khiếu nại , tố cáo của công dân đố i với các hành vi vi phạm pháp luật… Nhiệm vụ giám sát bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp đươ ̣c giao cho nhiề u chủ thể như Quốc hội , các cơ quan thuộc Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tố i cao, Viê ̣n trưởng Viện Kiể m sát nhân dân tối cao… với cơ chế phân công trách nhiệm không rõ ràng, dẫn tới hoạt động bảo hiến chưa thật sự hiệu quả. Trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn thì hành vi vi hiến ở Việt Nam có xảy ra nhưng chưa bị xử lý, điều đó được thể hiện trên thực tế các cơ quan có thẩm quyền chưa có bất kỳ phán quyết nào xử lý hành vi vi hiến. Qua đó có thể thấy rằng, hoạt động bảo hiến của Việt Nam hiện nay chỉ mang tính chất là hoạt động giám sát, kiểm tra, tự kiểm tra của các chủ thể có thẩm quyền mà không mang tính phán xét. Như vậy, ở Việt Nam chưa thiết 10 z lập được mô hình bảo hiến thật sự hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với đặc điểm tình hình của đất nước (cả về chính trị, kinh tế, văn hóa.