Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Bảo hiến trong Nhà nước pháp quyền" do nghiên cứu sinh Nguyễn Mậu Tuân thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Đăng Dung, thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật (mã số 62 38 01 01) tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2012.
Về tính cấp thiết, học thuyết Nhà nước pháp quyền khẳng định vị trí tối thượng của Hiến pháp trong đời sống chính trị và pháp lý của mỗi quốc gia. Nhằm hiện thực hóa nguyên tắc này, việc thiết lập cơ chế bảo vệ Hiến pháp (bảo hiến) là một đòi hỏi khách quan nhằm bảo đảm chủ quyền nhân dân, kiểm soát quyền lực nhà nước và bảo vệ quyền con người. Tại Việt Nam, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và XI đặt ra yêu cầu phải xác định cơ chế bảo vệ Hiến pháp, giám sát tính hợp hiến của các đạo luật và phán quyết các hành vi vi phạm Hiến pháp. Thực tế hơn 66 năm lập hiến tại Việt Nam (từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001) cho thấy cơ chế bảo vệ Hiến pháp chủ yếu vận hành dưới dạng tự kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan nhà nước, thiếu tính phán xét độc lập và chưa có bất kỳ phán quyết nào xử lý hành vi vi hiến. Trong bối cảnh Việt Nam triển khai nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, việc tìm kiếm một mô hình bảo hiến phù hợp là đòi hỏi cấp bách cả về lý luận và thực tiễn.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trước đây đa phần dừng lại ở các bài viết đơn lẻ, kỷ yếu hội thảo hoặc kiến nghị chung chung về sự cần thiết lập cơ quan chuyên trách, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống để đề xuất một mô hình bảo hiến cụ thể (về thẩm quyền, cơ cấu, trình tự thủ tục và hiệu lực phán quyết) gắn với các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và truyền thống pháp lý của Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm bốn nội dung:
- Nghiên cứu đặc trưng, yêu cầu của Nhà nước pháp quyền, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền với bảo hiến.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về bảo hiến và các mô hình bảo hiến điển hình trên thế giới.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình bảo hiến ở Việt Nam hiện nay.
- Đưa ra giải pháp xây dựng mô hình bảo hiến đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phù hợp với hệ thống chính trị, kinh tế, truyền thống và văn hóa pháp lý.
Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào 8 nội dung chính:
- Lý luận cơ bản về Nhà nước pháp quyền và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Khái niệm, vị trí, vai trò của Hiến pháp.
- Khái niệm, các dấu hiệu của hành vi vi hiến.
- Khái niệm bảo hiến và mối quan hệ giữa bảo hiến với Nhà nước pháp quyền.
- Các mô hình bảo hiến điển hình trên thế giới và kinh nghiệm lựa chọn của một số quốc gia.
- Thực trạng vi phạm Hiến pháp và thực trạng hoạt động bảo hiến ở Việt Nam.
- Tiền đề thiết lập mô hình bảo hiến ở Việt Nam.
- Kiến nghị giải pháp xây dựng mô hình bảo hiến phù hợp với thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong nước, vấn đề Nhà nước pháp quyền và bảo hiến đã được tiếp cận qua nhiều hệ thống tài liệu:
- Nhóm các chương trình khoa học cấp Nhà nước: Chương trình KX 04 (2001-2005) với các đề tài nhánh KX 04-01 do GS.VS Nguyễn Duy Quý chủ nhiệm; KX 04-02 do GS.TSKH Đào Trí Úc chủ nhiệm; KX 04-04 do GS.TS Trần Ngọc Đường chủ nhiệm.
- Nhóm sách chuyên khảo và tham khảo: Các công trình của Josef Thesing (2002); PGS.TS Trần Hậu Thành (2005); Nguyễn Trọng Thóc (2005); PGS.TS Lê Minh Thông (2001); GS.TS Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Văn Yểu (2006); PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh (2010); PGS.TS Nguyễn Như Phát (2011); TSKH Đào Trí Úc và PGS.TS Võ Khánh Vinh (2003); TSKH Đào Trí Úc và PGS.TS Nguyễn Như Phát (2007); PGS.TS Nguyễn Đăng Dung (các năm 2001, 2002, 2004, 2005, 2008); TS Nguyễn Sỹ Dũng (2005); TS Trịnh Thị Xuyến (2008); TS Ngô Huy Cương (2006); ThS Bùi Ngọc Sơn (2005, 2006); Đặng Văn Chiến (2005); Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2011).
- Nhóm bài viết tạp chí và kỷ yếu hội thảo: Nghiên cứu của Vũ Hồng Anh (2003, 2008), Nguyễn Văn Bình (2001), Ngô Huy Cương (2001), Nguyễn Đăng Dung (2000, 2009), Nguyễn Minh Đoan (2002), Trần Ngọc Đường (2007, 2008), Lê Hồng Hạnh (2008), Võ Trí Hảo và Hà Thu Thủy (2008), Võ Trí Hảo và Philips Kunig (2009), Nguyễn Hữu Huyên (2003), Nguyễn Đình Lộc (2005), Phạm Duy Nghĩa (2004), Nguyễn Như Phát (2004), Tào Thị Quyên (2009), Lê Minh Tâm (2005), Thái Vĩnh Thắng (2004), Bùi Huy Tùng (2010), Lê Tuấn Sơn và Tào Thị Quyên (2004), Đinh Ngọc Vượng (2008), Đặng Minh Tuấn (2010), Bùi Xuân Đức (2010); các luận văn thạc sĩ của Trần Ngọc Định (2004), Tào Thị Quyên (2004), Hồ Đức Anh (2006); Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế về bảo hiến (Nxb Thời đại, 2009) và Hội thảo tại Vinh (2005).
Về phía tài liệu quốc tế, luận án khảo cứu công trình của các học giả: Ferejohn (1990), Tom Ginsburg (2008), Elmendorf (2007), Lee Epstein, Jack Knight, Olga Shvetsova (2001), Wojciech Sadurski (2011), Randazzo (2003), Kim Lane Scheppele (2003), Umbach (2003), Benda (2002), Wolfgang Horn (2002), Josef Thesing (2002), Roman Herzog (2002), Gerhard Robbers (2002), Waldemar Besson và Gotthard Jasper (2002), Kurt Eichenberger (2002), Helmut Simon (2002), Ulrich Karpen (2002), Ingo Richter (2002), John Gillespie (2009), K.C. Wheare (1962), Kevin Boyle và Adel Omar Sherif (1996).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết bao gồm ba khía cạnh cụ thể:
- Khắc phục tính tản mạn của các công trình trước đây vốn chủ yếu tồn tại dưới dạng bài báo hoặc tham luận hội thảo riêng lẻ, chưa tạo thành một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về bảo hiến trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Giải quyết sự thiếu vắng của một thiết kế mô hình cơ quan bảo hiến chuyên trách cụ thể cho tương lai của Việt Nam, làm rõ các yếu tố về vị trí, cách thức thành lập, thẩm quyền, cơ cấu tổ chức và trình tự phán quyết.
- Bổ sung góc nhìn liên ngành khi so sánh quốc tế, không chỉ dừng lại ở phân tích kỹ thuật lập pháp mà gắn liền với các yếu tố đặc thù về chính trị, lịch sử, văn hóa xã hội của các nước có nét tương đồng với Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về vị trí tối cao của Hiến pháp và bảo vệ Hiến pháp. Các khung lý thuyết và khái niệm cốt lõi được vận dụng gồm:
- Học thuyết Nhà nước pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến (chủ nghĩa hiến pháp).
- Thuyết khế ước xã hội: Xác định Hiến pháp là bản hợp đồng ủy quyền của nhân dân đối với các cơ quan quyền lực nhà nước, đặt nền tảng cho việc giới hạn và kiểm soát quyền lực.
- Lý thuyết về sự hạn chế quyền lực nhà nước và cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng:
- Phương pháp lịch sử: Phân tích tiến trình hình thành và phát triển của học thuyết Nhà nước pháp quyền, các mô hình bảo hiến trên thế giới và lịch sử hoạt động bảo hiến qua các bản Hiến pháp Việt Nam.
- Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa các mô hình bảo hiến tiêu biểu trên thế giới và thực tiễn tại Việt Nam nhằm rút ra các tiền đề xây dựng mô hình cơ quan bảo hiến.
- Phương pháp thống kê: Khảo sát bức tranh tổ chức mô hình bảo hiến tại các quốc gia và nhận diện các biểu hiện vi phạm Hiến pháp trong thực tế.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu các quy định của pháp luật: Đối chiếu quy định pháp luật qua từng thời kỳ lập hiến tại Việt Nam và giữa các hệ thống tài phán hiến pháp quốc tế.
- Phương pháp phân tích quy phạm: Mổ xẻ các điều khoản hiến định và văn bản dưới luật liên quan đến chức năng giám sát, thẩm quyền bảo hiến và nội dung vi phạm Hiến pháp.
- Phương pháp mô hình hoá và điển hình hoá các quan hệ xã hội: Xác định các nhóm lĩnh vực có nguy cơ phát sinh hành vi vi hiến, từ đó định hình mô hình thiết chế bảo hiến phù hợp với điều kiện Việt Nam.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn, khảo sát ý kiến chuyên gia về hiệu quả của các mô hình bảo hiến quốc tế, đánh giá thực trạng Việt Nam và lựa chọn mô hình tối ưu.
Nguồn tư liệu nghiên cứu bao gồm các Văn kiện Đại hội Đảng (đặc biệt là Đại hội X, Đại hội XI), Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 (sửa đổi 2001), các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước, luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, luật hoạt động giám sát của Quốc hội, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, cùng hệ thống giáo trình, sách chuyên khảo, bài báo khoa học và án lệ quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến Nhà nước pháp quyền và bảo hiến. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trong nước đã đạt được sự đồng thuận về vị trí tối thượng của Hiến pháp, xem Hiến pháp là đạo luật cơ bản bảo vệ chế độ và quyền con người. Các học giả đều nhận định hoạt động bảo vệ Hiến pháp tại Việt Nam hiện nay được giao cho nhiều cơ quan (Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao) nhưng thiếu sự phân định trách nhiệm rõ ràng, chưa có cơ quan chuyên trách và cơ chế phán quyết vi hiến chưa tồn tại. Tuy nhiên, các công trình trong nước chưa giải quyết được mô hình bảo hiến cụ thể về mặt tổ chức, thẩm quyền và thủ tục cho Việt Nam.
Về nghiên cứu quốc tế, chương này điểm lại sự ra đời của các mô hình tài phán: mô hình phi tập trung khởi nguồn từ án lệ Marbury v. Madison (1803) tại Hoa Kỳ; mô hình tập trung do học giả Hans Kelsen khởi xướng ở châu Âu sau Thế chiến thứ I với thiết chế Tòa án hiến pháp; mô hình Hội đồng hiến pháp (điển hình tại Pháp); và mô hình hỗn hợp. Qua tổng quan, tác giả rút ra bài học kinh nghiệm và xác định việc xây dựng mô hình bảo hiến tại Việt Nam cần tính đến các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, lịch sử và văn hóa bản địa.
Chương 2. Nhà nước pháp quyền và vấn đề bảo hiến
Chương 2 làm rõ các đặc trưng cơ bản và đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền, bao gồm: tính hợp hiến của nhà nước; quyền lực nhà nước phải bị giới hạn và kiểm soát chặt chẽ; tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong hệ thống; pháp luật phải tiệm cận với pháp luật tự nhiên và hướng tới phục vụ con người; bảo vệ quyền con người, quyền công dân; và bảo đảm nền dân chủ. Luận án phân tích sáu đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhấn mạnh nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tác giả phân tích vị trí của Hiến pháp như một đạo luật cơ bản, bản văn chính trị - pháp lý và khế ước ủy quyền quyền lực. Luận án đưa ra khái niệm và nhận diện ba nhóm dấu hiệu của hành vi vi phạm Hiến pháp:
- Vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp (ban hành luật, nghị quyết trái thẩm quyền hoặc có nội dung trái Hiến pháp).
- Vi phạm Hiến pháp trong hoạt động hành pháp (chấp hành, thi hành pháp luật hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái Hiến pháp).
- Vi phạm Hiến pháp trong hoạt động tư pháp (các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, kiểm sát vi phạm quy định của Hiến pháp).
Chương 2 cũng phân tích cấu trúc, ưu điểm và hạn chế của các mô hình bảo hiến tiêu biểu trên thế giới: mô hình Tòa án hiến pháp, mô hình Hội đồng hiến pháp, mô hình Tòa án tư pháp và mô hình hỗn hợp, đồng thời khảo cứu kinh nghiệm lựa chọn của một số quốc gia trong và ngoài khu vực Đông Nam Á.
| Mô hình bảo hiến |
Cơ quan thực hiện |
Đặc trưng phương thức kiểm tra |
Đại diện tiêu biểu |
| Phi tập trung (Tư pháp) |
Hệ thống Tòa án thường |
Xem xét tính hợp hiến gắn liền với vụ án cụ thể (hậu kiểm) |
Hoa Kỳ |
| Tập trung |
Tòa án hiến pháp |
Cơ quan chuyên trách riêng biệt, phán quyết các vấn đề hiến định |
Đức, Áo |
| Hội đồng hiến pháp |
Hội đồng hiến pháp |
Kiểm tra tính hợp hiến chủ yếu trước khi văn bản ban hành (tiền kiểm) |
Pháp |
| Hỗn hợp |
Tòa án thường & Cơ quan chuyên trách |
Kết hợp xét xử thông thường và cơ chế tài phán hiến pháp riêng biệt |
Bồ Đào Nha, Nam Phi, Hy Lạp |
| Cơ quan lập pháp |
Quốc hội / Nghị viện |
Tự giám sát, kiểm tra nội bộ, không hình thành cơ quan tài phán độc lập |
Các nước XHCN trước đây, Việt Nam, Trung Quốc |
Chương 3. Vấn đề bảo hiến ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 tập trung đánh giá cơ sở pháp lý và thực trạng hoạt động bảo hiến tại Việt Nam. Về mặt lập hiến, các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992 (sửa đổi 2001) đều khẳng định vị trí tối thượng của Hiến pháp và quy định thẩm quyền giám sát tính hợp hiến. Tuy nhiên, hoạt động này thực chất chỉ là cơ chế tự giám sát, kiểm tra giữa các cơ quan hành chính và lập pháp, chưa mang tính tài phán hay phán xét độc lập. Luận án chỉ ra sự thiếu vắng các quy định về trình tự, thủ tục xem xét vi hiến và việc phân công trách nhiệm chưa rõ ràng, dẫn đến tình trạng dù có văn bản hoặc hành vi có dấu hiệu vi hiến trên thực tế nhưng chưa từng có phán quyết pháp lý nào xử lý triệt để.
Từ thực trạng trên, tác giả khẳng định sự cần thiết phải xây dựng mô hình bảo hiến mới tại Việt Nam dựa trên ba căn cứ:
- Xuất phát từ mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
- Xuất phát từ yêu cầu khắc phục những hạn chế, bất cập nội tại trong hoạt động giám sát, bảo vệ Hiến pháp hiện nay.
- Xuất phát từ tính tất yếu của quá trình hội nhập quốc tế và xu thế phát triển chung của thời đại.
Chương 4. Xây dựng mô hình bảo hiến trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chương 4 đề xuất giải pháp thiết lập mô hình bảo hiến tại Việt Nam. Luận án quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng trong Văn kiện Đại hội X và XI, đồng thời xác lập 5 nguyên tắc bắt buộc khi xây dựng mô hình:
- Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Đảm bảo nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
- Đảm bảo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Đảm bảo tính khả thi, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và trình độ phát triển của đất nước.
- Đảm bảo độc lập, chủ quyền và an ninh quốc gia.
Trên cơ sở đánh giá các phương án, tác giả đề xuất kiến nghị: Xây dựng mô hình Hội đồng hiến pháp ở Việt Nam như một giải pháp quá độ phù hợp. Luận án luận giải chi tiết thiết chế này:
- Cách thức thành lập và cơ cấu tổ chức của Hội đồng hiến pháp: Do Quốc hội thành lập hoặc phê chuẩn với các tiêu chuẩn chặt chẽ về năng lực chuyên môn và phẩm chất chính trị.
- Thẩm quyền: Xem xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật (luật của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao); giải quyết tranh chấp thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương; bảo vệ các quyền hiến định của công dân.
- Quyền yêu cầu xem xét: Quy định rõ các chủ thể có quyền đề nghị Hội đồng hiến pháp xem xét vụ việc (Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, đại biểu Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ chế khiếu nại của công dân).
- Trình tự, thủ tục và hiệu lực phán quyết: Quy định quy trình thụ lý, thẩm tra, xét xử và phán quyết; phán quyết của Hội đồng hiến pháp có giá trị chung thẩm và tính ràng buộc pháp lý bắt buộc đối với mọi chủ thể.
Chương này cũng đưa ra các nhóm giải pháp bảo đảm điều kiện thực thi, trọng tâm là việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 để hiến định hóa vị trí của Hội đồng hiến pháp, cùng các giải pháp hỗ trợ đồng bộ về tổ chức bộ máy, hoàn thiện hệ thống tố tụng và nâng cao văn hóa pháp lý.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các kết quả và đóng góp mới chủ yếu sau:
- Về mặt lý luận: Luận án góp phần khẳng định và làm sâu sắc thêm giá trị lý luận về vị trí tối cao của Hiến pháp và vai trò của bảo hiến trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng và chuẩn hóa hệ thống khái niệm khoa học về bảo hiến, mô hình bảo hiến, vi phạm Hiến pháp và các dấu hiệu nhận diện hành vi vi hiến trong cả ba nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Về mặt thực tiễn: Luận án xác lập luận cứ khoa học để khẳng định mô hình Hội đồng hiến pháp là giải pháp quá độ thích hợp nhất với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa pháp lý của Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu; luận án thiết kế cụ thể cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, thủ tục tố tụng và hiệu lực phán quyết của Hội đồng hiến pháp; đồng thời đề xuất các nội dung cần sửa đổi, bổ sung trong Hiến pháp năm 1992 nhằm tạo cơ sở hiến định vững chắc cho cơ chế bảo hiến chuyên trách.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt phạm vi, luận án tập trung xây dựng cơ sở lý luận và đề xuất khung mô hình Hội đồng hiến pháp với tư cách là một giải pháp mang tính chất quá độ, gắn liền với giai đoạn nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp 1992 tại thời điểm năm 2012. Do dung lượng và giới hạn chuyên môn của một luận án chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật, công trình chưa thể xây dựng chi tiết toàn bộ Dự thảo Luật Tố tụng hiến pháp.
Các hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ phạm vi luận án bao gồm:
- Tiếp tục nghiên cứu sâu về kỹ thuật lập pháp trong việc xây dựng Luật Tố tụng hiến pháp hoặc Đạo luật về tổ chức và hoạt động của cơ quan bảo hiến tại Việt Nam.
- Nghiên cứu cơ chế thi hành các phán quyết hiến vị và chế tài pháp lý cụ thể đối với các cơ quan công quyền khi bị kết luận có hành vi vi hiến.
- Đánh giá lộ trình chuyển đổi từ mô hình Hội đồng hiến pháp sang các mô hình tài phán hiến pháp chuyên sâu hơn trong các giai đoạn phát triển tiếp theo của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là nguồn tài liệu tham khảo khoa học có giá trị chuyên môn cao đối với:
- Cơ quan lập pháp và các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn trực tiếp cho Ban soạn thảo sửa đổi Hiến pháp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan hữu quan trong việc thiết kế, hoàn thiện các thiết chế hiến định bảo vệ Hiến pháp và kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Luật học: Cung cấp khung lý thuyết hệ thống về Nhà nước pháp quyền, chủ nghĩa hợp hiến và tư liệu tổng quan sâu sắc về lịch sử các mô hình bảo hiến trên thế giới (Mỹ, châu Âu, Đông Nam Á).
- Giảng viên giảng dạy các học phần Luật Hiến pháp, Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Lịch sử Nhà nước và Pháp luật: Sử dụng nội dung phân tích so sánh các mô hình tài phán hiến pháp và các dấu hiệu vi phạm Hiến pháp làm tài liệu giảng dạy chuyên sâu.
Câu hỏi thường gặp
1. Hành vi vi phạm Hiến pháp được luận án phân loại như thế nào?
Theo luận án, hành vi vi phạm Hiến pháp được phân chia theo ba lĩnh vực hoạt động của bộ máy nhà nước:
- Trong hoạt động lập pháp: Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết trái thẩm quyền hoặc có nội dung mâu thuẫn, trái với Hiến pháp.
- Trong hoạt động hành pháp: Cơ quan hành chính nhà nước ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái Hiến pháp hoặc thực hiện các hoạt động thi hành pháp luật không phù hợp với quy định hiến định.
- Trong hoạt động tư pháp: Các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, kiểm sát vi phạm các nguyên tắc và quyền cơ bản được Hiến pháp bảo đảm.
2. Mô hình bảo hiến cụ thể nào được tác giả đề xuất áp dụng tại Việt Nam?
Tác giả đề xuất xây dựng mô hình Hội đồng hiến pháp tại Việt Nam như một giải pháp mang tính quá độ. Mô hình này được lựa chọn vì tính phù hợp với cấu trúc thể chế chính trị, nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời đáp ứng yêu cầu kiểm soát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật và bảo vệ quyền con người.
3. Việc xây dựng mô hình bảo hiến ở Việt Nam cần bảo đảm các nguyên tắc cốt lõi nào?
Luận án xác định 5 nguyên tắc bắt buộc:
- Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Đảm bảo nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
- Đảm bảo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các nhánh quyền lực.
- Đảm bảo tính khả thi với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
- Đảm bảo độc lập, chủ quyền và an ninh quốc gia.
4. Vì sao hoạt động bảo hiến tại Việt Nam trước thời điểm nghiên cứu bị đánh giá là chưa thật sự hiệu quả?
Luận án chỉ ra rằng hoạt động bảo vệ Hiến pháp tại Việt Nam khi đó chỉ mang tính chất tự giám sát, kiểm tra nội bộ giữa các cơ quan nhà nước; thẩm quyền bị phân tán cho nhiều cơ quan nhưng thiếu quy định rõ ràng về phân công trách nhiệm; thiếu vắng trình tự, thủ tục tố tụng hiến pháp độc lập; và chưa thiết lập được cơ chế tài phán có quyền ra phán quyết pháp lý mang tính ràng buộc đối với các hành vi và văn bản vi hiến.
Kết luận
Luận án "Bảo hiến trong Nhà nước pháp quyền" của tác giả Nguyễn Mậu Tuân là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về cơ sở lý luận, thực tiễn của thiết chế bảo hiến trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Dựa trên việc phân tích các học thuyết pháp lý, tổng kết kinh nghiệm quốc tế và đánh giá thực trạng cơ chế bảo vệ Hiến pháp hiện hành, tác giả đã đề xuất kiến nghị mang tính khả thi về việc thành lập Hội đồng hiến pháp với tư cách là một mô hình quá độ phù hợp. Công trình đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác lập hiến, lập pháp và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước tại Việt Nam.