Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 1. Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm tai nạn lao động 1. Bảo hiểm tai nạn lao động 1. Khái niệm bảo hiểm tai nạn lao động Trong quá trình tham gia quan hệ lao động, do nhiều nguyên nhân khác nhau từ điều kiện lao động mà NLĐ có thể gặp phải rủi ro mà bị TNLĐ.
Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình NLĐ thực hiện các nghĩa vụ lao động, có thể do nguyên nhân từ công tác an toàn, vệ sinh lao động không được đảm bảo như: sự cố công nghệ (nổ nồi hơi, bình nén khí, thiết bị nâng không đảm bảo…), ý thức kỷ luật lao động kém, trình độ lao động thấp, tâm lý lao động không ổn định… Khi bị TNLĐ, nhu cầu của con người thay đổi một cách cơ bản kèm theo là sự tăng lên đáng kể về chi phí chữa trị và đảm bảo đời sống hằng ngày khi họ không thể đi làm và không có lương. Vì thế, từ rất lâu, các quốc gia trên thế giới đã đề ra nhiều biện pháp khắc phục tình trạng trên. Một trong những biện pháp đó chính là bảo hiểm TNLĐ1. Trên thế giới, bảo hiểm TNLĐ ra đời từ rất sớm.
Từ năm 1850, Cộng hòa Liên bang Đức đã quy định bảo hiểm TNLĐ trong pháp luật nước mình. Do những ưu việt của loại bảo hiểm này trong việc bảo đảm đời sống cho NLĐ và gia đình họ trong thời gian gặp rủi ro, nên sau đó bảo hiểm TNLĐ đã phát triển dần sang các quốc gia khác. Đến nay, bảo hiểm TNLĐ được hầu hết các quốc gia trên thế giới ghi nhận. Ở Việt Nam, ngay từ sau khi giành được chính quyền Tháng Tám năm 1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quan tâm đến 1.
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật an sinh xã hội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 9 chính sách BHXH đối với NLĐ, trong đó có bảo hiểm TNLĐ. Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, quy định về bảo hiểm TNLĐ khác nhau. Song điểm chung là đều đưa ra khái niệm TNLĐ xuất phát từ sự kiện thực tế của NLĐ khi bị TNLĐ.
Đó là khi bị TNLĐ, NLĐ sẽ bị mất hoặc giảm thu nhập từ lao động, mặt khác các chi phí cho đời sống hằng ngày tăng lên đột xuất, từ đó mà nhu cầu chia sẻ rủi ro của NLĐ và gia đình họ trong các trường hợp này trở nên cấp thiết. Trong đó, NSDLĐ, bên sử dụng sức lao động của NLĐ có trách nhiệm lớn trong vấn đề này và cần thiết chia sẻ những khó khăn với NLĐ. Bảo hiểm TNLĐ có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo nghĩa rộng, bảo hiểm TNLĐ là chế độ bảo hiểm nhằm bù đắp hoặc thay thế thu nhập từ lao động của NLĐ khi bị TNLĐ mà bị giảm hoặc mất khả năng lao động.
Theo nghĩa này thì bảo hiểm TNLĐ của NLĐ không chỉ được đảm bảo từ quỹ bảo hiểm mà còn được đảm bảo từ chính NSDLĐ. NSDLĐ phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản viện phí, thuốc men và trả lương cho NLĐ trong suốt thời gian điều trị. Theo nghĩa hẹp, bảo hiểm TNLĐ là một chế độ của BHXH, do quỹ BHXH chi trả nhằm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập từ lao động của NLĐ khi bị giảm hoặc mất thu nhập do giảm hoặc mất khả năng lao động từ nguyên nhân bị TNLĐ2. Cũng như các chế độ BHXH khác, bảo hiểm TNLĐ do quỹ bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp chi trả, không bao gồm các chi phí trực tiếp do NSDLĐ thanh toán.
Tuy nhiên nếu trong trường hợp NSDLĐ chưa đóng bảo hiểm TNLĐ cho NLĐ nếu NLĐ thuộc diện đóng bảo hiểm bắt buộc thì NSDLĐ phải thanh toán các khoản cho NLĐ theo mức quy định của pháp luật. Từ khái niệm bảo hiểm TNLĐ đưa ra, có thể thấy bảo hiểm TNLĐ có một số đặc điểm như sau: 2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật an sinh xã hội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 10 Thứ nhất, bảo hiểm TNLĐ chỉ áp dụng đối với NLĐ bị TNLĐ phát sinh trong quá trình lao động.
Nếu như bảo hiểm y tế áp dụng đối với mọi người dân trong xã hội, thì bảo hiểm TNLĐ chỉ áp dụng với NLĐ trong độ tuổi lao động và có xác lập quan hệ lao động. Bởi lẽ, khi NLĐ làm việc cho NSDLĐ, dưới sự quản lý lao động của NSDLĐ họ phải thực hiện các nghĩa vụ được giao. Trong quá trình đó, do nguyên nhân nào đó, họ bị TNLĐ thì trách nhiệm thuộc về NSDLĐ. Hay nói cách khác, NSDLĐ là người mua sức lao động của NLĐ đem vào quá trình sản xuất công tác, NSDLĐ phải có trách nhiệm đảm bảo các điều kiện lao động an toàn, vệ sinh, bảo vệ sức khỏe cho NLĐ.
Song, do lý do khách quan hoặc chủ quan phát sinh dẫn đến NLĐ bị tai nạn làm tổn thương bất kỳ bộ phận cơ thể hoặc ảnh hưởng đến chức năng của nào đó của cơ thể NLĐ hoặc NLĐ bị chết, thì NSDLĐ phải có trách nhiệm chia sẻ các rủi ro này. Thứ hai, bảo hiểm TNLĐ nhằm mục đích đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ khi bị suy giảm khả năng lao động Trong quá trình lao động, nếu NLĐ bị TNLĐ mà dẫn đến suy giảm khả năng lao động thì kéo theo thu nhập của họ bị giảm sút hoặc bị mất. Bởi vậy, mục tiêu của bảo hiểm TNLĐ là nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ khi do NLĐ bị TNLĐ mà phải nghỉ việc, hoặc sau đó khả năng lao động của họ bị suy giảm. Điều đó lý giải tại sao các chế độ TNLĐ là các chế độ được trả bằng tiền, không chỉ giúp NLĐ đảm bảo đời sống, mà trong một số trường hợp họ còn được trợ cấp để mua các phương tiện trợ giúp sinh hoạt khi NLĐ bị mất hoặc suy giảm bộ phận, chức năng nào đó của cơ thể để họ tham gia sinh hoạt bình thường.
Thứ ba, nguồn chi trả bảo hiểm TNLĐ do NSDLĐ đảm bảo Đây là đặc điểm quan trọng của bảo hiểm TNLĐ. Cũng như các chế độ BHXH ngắn hạn khác như ốm đau, thai sản… bảo hiểm TNLĐ hoàn toàn do NSDLĐ đóng phí. Bởi các sự kiện rủi ro phát sinh gắn liền với thời gian NLĐ đang tham gia quan hệ lao động, đang đi làm và có lương. Khi NLĐ gặp 11 rủi ro, bị TNLĐ thì họ không đi làm được và tất yếu không có thu nhập.
Do rủi ro đó gắn liền với quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động, nên ở hầu hết các quốc gia, nguồn thực hiện bảo hiểm TNLĐ đều do NSDLĐ đóng góp. Ý nghĩa của bảo hiểm tai nạn lao động Bảo hiểm TNLĐ có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo đời sống cho NLĐ tham gia BHXH mà bị TNLĐ làm suy giảm hoặc mất khả năng lao động. Khi thu nhập của NLĐ được bảo đảm sẽ là cơ sở quan trọng để bảo đảm an sinh xã hội và từ đó góp phần phát triển ổn định, bền vững kinh tế - xã hội của đất nước. - Đối với NLĐ tham gia bảo hiểm TNLĐ Người lao động khi bị TNLĐ sẽ phát sinh nhu cầu được đảm bảo đời sống khi khả năng lao động bị suy giảm.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có nguồn tài chính dư dả để có thể đảm bảo đời sống và thu nhập cho mình cũng như các thành viên trong gia đình. Vì vậy, nếu NLĐ tham gia bảo hiểm TNLĐ thì họ sẽ được quỹ bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp trả trợ cấp bằng tiền để thay thế hoặc bù đắp thu nhập bị mất cũng như trợ cấp tiền mua các phương tiện trợ giúp sinh hoạt hằng ngày do có bộ phận, chức năng nào đó bị mất hoặc suy giảm. Ngoài ra, khi người tham gia bảo hiểm TNLĐ mà chẳng may bị chết thì thân nhân của họ được thanh toán một khoản tiền vừa nhằm bù đắp cho thân nhân của NLĐ, vừa bảo đảm công bằng do NLĐ đã có thời gian tham gia bảo hiểm. - Đối với người sử dụng lao động Bảo hiểm TNLĐ giúp cho các tổ chức sử dụng lao động, các doanh nghiệp ổn định hoạt động thông qua việc phân phối các chi phí cho NLĐ một cách hợp lý.
Nếu không có bảo hiểm TNLĐ, khi NLĐ bị TNLĐ không có nguồn thu nhập, không có chi phí thuốc men…đời sống của họ bị ảnh hưởng thì quan hệ lao động, chất lượng, hiệu quả lao động trong doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng theo. Chế độ TNLĐ góp phần làm cho lực lượng lao động trong mỗi đơn vị ổn định, sản xuất, kinh doanh được hoạt động liên tục, hiệu quả, các bên của quan hệ lao động cũng gắn bó với nhau hơn. 12 Bảo hiểm TNLĐ tạo điều kiện cho NSDLĐ có trách nhiệm với NLĐ, không chỉ khi trực tiếp sử dụng lao động mà trong suốt cuộc đời NLĐ. Trong trường hợp, NLĐ bị TNLĐ hưởng trợ cấp một lần hoặc trợ cấp TNLĐ hàng tháng thì NSDLĐ có trách nhiệm với NLĐ.
Bảo hiểm TNLĐ làm cho quan hệ lao động có tính nhân văn sâu sắc, nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. - Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Khi NLĐ được bảo đảm đời sống, giảm bớt khó khăn thì họ sẽ yên tâm hơn, từ đó giúp ổn định xã hội. Ngoài ra, cũng như các chế độ BHXH khác, bảo hiểm TNLĐ là sự cụ thể hóa rõ nét nhất quyền con người trong xã hội, là công cụ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả, công bằng xã hội cho mọi thành viên trong xã hội. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để NLĐ được đảm bảo quyền lợi của mình đồng thời cũng thể hiện trách nhiệm của cơ quan BHXH, của Nhà nước đối với NLĐ gặp rủi ro trong quá trình lao động.
Đặc biệt, trong thời đại khoa học công nghệ phát triển, việc sử dụng máy móc, công nghệ cao, nếu không tuân thủ chặt chẽ quy trình sử dụng, sẽ dễ gây nên TNLĐ. Khi đó, NLĐ sẽ gặp nhiều khó khăn khi khả năng lao động bị suy giảm mà không có thu nhập do phải nghỉ việc. Trong trường hợp đó, bảo hiểm TNLĐ làm nhiệm vụ điều tiết thu nhập giữa những NLĐ tham gia nhằm giảm đảm bảo công bằng xã hội. Pháp luật bảo hiểm tai nạn lao động 1.