CHƯƠNG 1 n h ũ n g vấn đ ê l ý lu ậ n C ơ b ả n v ê b ả o đ ả m t iề n v a y C Ủ A NGÂN H À N G T H Ư Ơ N G M ẠI 1. TỎNG QUAN VÈ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THUÔNG MẠI 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại Ngân hàng là tổ chức có nguồn gốc ra đời lâu đời nhất trong quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia cũng như trên thể giới.
Tiền thân từ những “cửa hiệu” đổi tiền, chuyển tiền thanh toán hộ và giữ hộ tài sản cho khách hàng, đến nay hệ thống ngân hàng đã có một sự phát triển vượt bậc cả về qui mô cũng như dịch vụ cung cấp. Trong các tài liệu nghicn cứu và thực tiễn có nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng. Theo giáo sư Fredric s. Mishkin “Ngân hàng là các to chức tài chính nhận tiền gửi và cho vay” hay theo giáo sư Peter s Rose “ Ngân hàng là một trung gian tài chính nhận tiền gửi và cung cấp vốn vay; cung cấp một hệ thống các dìch vụ của một định chê tài chính”.
Theo luật các tổ chức tín dụng sô 47/2010/QH12 được Quốc hội Việt Nam ban hành ngày 16/06/2010 thì “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan ” Trong các loại hình ngân hàng, NHTM là những trung gian tài chính quan trọng nhất bởi qui mô khối lượng dịch vụ mà nó cung ứng cũng như vai trò trong nền kinh tể. Theo nhà kinh tể học David Begg “ Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của Chính Phủ đê cho vay tiền và mở các tài khoản tiền gử i”. Ớ Mỹ “Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính ”. Ở Pháp “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp thường xuyên nhận tiên gửi của công chúng dưới hình thức tiền gửi hay hình thức khác và họ dùng vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính ” 8 Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì “Ngân hàng Thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận ” Trong đó hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một sổ các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi Cấp tín dụng Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản Cho dù có nhiều định nghĩa về NHTM, nhưng tựu chung nó đều thể hiện những nét đặc trưng cơ bản: Với tư cách là một trung gian tài chính, NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh đồng vốn.
Họ được phép kinh doanh tiền gửi, thu nhận các khoản tiền gửi trong nền kinh tế trên nguyên tắc phải có trách nhiệm hoàn trả. Là một doanh nghiệp kinh doanh đồng vốn nên các NHTM luôn tìm cách tối đa hóa lợi nhuận thông qua việc sử dụng nguồn vốn huy động được đê cho vay, đâu tư cũng như các hình thức cấp tín dụng khác. Thực hiện các khoản thanh toán và các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Sự ra đời và phát triển của các NHTM luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế, trong giai đoạn mới hình thành, hoạt động của các NHTM chủ yếu là đi vay để cho vay.
Nhưng xu hướng chung của NHTM trong vài thập niên trở lại đây là kinh doanh có tính tổng hợp và đa năng. Các NHTM hiện đại ngày nay đã trở thành những tập đoàn với các sản phẩm, dịch vụ vô cùng phong phú. Không chỉ dừng lại ở nghiệp vụ huy động vốn và cho vay mà NHTM còn thực hiện các dịch vụ như kinh doanh ngoại hối, tư vấn tài chính, dịch vụ ngân hàng két sắt, kinh doanh vàng, mua bán nợ, cung cấp các công cụ phái sinh. Đặc biệt các NHTM còn bước chân sang nhiều lĩnh vực kinh doanh khác như kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm.
Các sản phẩm, dịch vụ mà NHTM cung cấp không chỉ còn trong phạm vi quốc gia mà mang tính quốc té trên phạm vi toàn cầu. Xét về bản chất có thể nói NHTM là một trung gian tài chính cung cấp đa 9 dạng các dịch vụ tài chỉnh, trong đó nghiệp vụ chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán nhằm mục tiêu lợi nhuận. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Thứ nhất: Ngân hàng thương mại là một ngân hàng kinh doanh tiền gửi. Trên thị trường tài chính, NHTM là tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất, chuyển tải những khoản vốn huy động được trong xã hội đến những chủ thể có nhu cầu chi tiêu về đầu tư.
Với chức năng ban đầu là nhận tiền gửi của xã hội, NHTM đã mở rộng hoạt động và trở thành các chủ thể chuyên mua, bán quyền sử dụng vốn. Ngày nay có rất nhiều các tổ chức cung cấp dịch vụ ngân hàng ra đời và phát triển. Song người ta phân biệt NHTM với các TCTD khác ở chỗ NHTM là ngân hàng kinh doanh tiền gửi. Thứ hai: Ngân hàng thương mại là kênh dẫn vốn quan trọng trong nền kinh tế.
Mặc dù NHTM không phải là tổ chức duy nhất thực hiện vai trò kinh doanh đồng tiền cũng như dẫn vốn trong nền kinh tế, nhưng ở bất kỳ nền kinh tế nào NHTM cũng được coi là trung gian tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế. Với tính chất kinh doanh không bị giới hạn, hệ thống các NHTM luôn nắm giữ chủ đạo về quy mô tổng tài sản cũng như số lượng các nghiệp vụ. Hon nữa, khối lượng séc hay tài khoản tiền gửi không kỳ hạn mà nó có thể tạo ra là bộ phận quan trọng nhất trong tống cung ứng tiền tệ của nền kinh tế. Với vai trò quan trọng như vậy, nên NHTM trở thành kênh truyền dẫn vốn quan trọng nhất trong nền kinh tế.
Khả năng truyền dẫn vốn của hệ thống NHTM thể hiện tính huyết mạch của luồng vốn chu chuyến. Thứ ba: Hoạt động của NHTM có tính nhạy cảm cao, gắn liền với rủi ro và luôn chịu sự giám sát chặt chẽ của pháp luật. Với đối tượng kinh doanh là tiền tệ và các dịch vụ liên quan đến tiền tệ nên hoạt động kinh doanh của NHTM luôn có tính nhạy cảm và rủi ro cao. Hơn nữa, với thị trường kinh doanh và đối tượng khách hàng rộng lớn nên mức độ rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng ngày càng gia tăng.
Rất nhiều những rủi ro mà NHTM phải đối mặt như: Rủi ro tín dụng, Rủi ro thanh khoản, Rủi ro lãi suất, tỷ giá; Rủi ro tác nghiệp,. Những rủi ro mà NHTM phải gánh chịu không xuất phát từ nội tại các 10 ngân hàng mà còn bị tác động của những yếu tố bên ngoài. Mặt khác, vì được phép nhận tiền gửi nên mức độ ảnh hưởng của NHTM đối với nền kinh tế là rất lớn, đó chính là lý do tại sao ở tất cả các nền kinh tế người ta rất quan tâm đến độ an toàn hoạt động của ngân hàng thương mại. Thứ tư: Quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng dựa trên sự tín nhiệm Thực chất hoạt động kinh doanh ngân hàng là dựa trên chữ tín, với chức năng chuyên nhận tiền gửi trong khi mức vốn chủ sở hữu của ngân hàng là rất bé nhỏ.
Vì vậy, lòng tin của khách hàng là yếu tố quyết định đến khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng. Điều này đòi hỏi các NHTM phải tôn trọng các nguyên tắc trong kinh doanh để đảm bảo an toàn thanh khoản - yếu tổ quyết định đến lòng tin của khách hàng. Thứ năm: Hoạt động của ngân hàng thương mại có tính cạnh tranh cao. Hoạt động kinh doanh của NHTM là cung cấp các dịch vụ tài chính đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, do đó đòi hỏi các NHTM không ngừng phát triển và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ của mình.
Khả năng cạnh tranh của các NHTM phụ thuộc vào mức độ '‘hoàn hảo” của các sản phâm dịch vụ mà nó cung cấp. Mặt khác, các sản phẩm dịch vụ của NHTM mang tính tương đồng dễ bắt chước và gắn chặt với yếu tố thời gian. Chính vì vậy, ngày nay các NHTM luôn chú trọng vào dầu tư công nghệ, cũng như nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để luôn đi dầu trong việc dưa ra những sản phấm có tính riêng biệt để thu hút khách hàng. Đặc biệt, với xu hướng quốc tế hóa và sự mở cửa của thị trường dịch vụ tài chính hiện nay càng tạo nên áp lực cạnh tranh mạnh mẽ đối với các NHTM.
Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng thuong mại Cho vay là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu của ngân hàng thương mại và là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tống tài sản của ngân hàng. Đây là một mặt của hoạt động tín dụng ngân hàng, thông qua hoạt động cho vay ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dưới hình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động dược từ trong xã hội để phục vụ nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống. 11 Có nhiều cách khái niệm về cho vay khác nhau. Theo khoản 1 điều 2 Thông tư số 39/2016/TT - NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền đế sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Như vậy, cho vay là một giao dịch bằng tiền hoặc tài sản giữa NHTM với khách hàng trong nền kinh tế, trên cơ sở có hoàn trả mà thực chat là sụ vay mượn dim trên cơ sở tin tưởng, tín nhiệm lân nhau. Trong đó sự hoàn trả là đặc trưng thuộc về bản chất của cho vay, là nguyên tắc để phân biệt phạm trù cho vay với cấp phát của Ngân sách nhà nước. Đặc điểm cho vay của ngân hàng thuong mại trong nền kinh tế thị trường Hoạt động cho vay: Đây là hoạt động mà ngân hàng cung cấp các khoản cho vay đối với khách hàng trong nền kinh tế nhằm thu lợi nhuận.