đặt vấn đề nghiên cứu. Khi xem xét quan niệm về trẻ em từ các chuyên ngành khác nhau: ngành Tâm lý học, ngành Luật học, mỗi một chuyên ngành lại đặt ra những quan điểm khác nhau về khái niệm “trẻ em” nhằm đáp ứng tốt hơn về mặt học thuật trong việc bảo đảm sự phát triển toàn diện của trẻ em thông qua công tác nghiên cứu rồi đi tới ứng dụng thực tiễn, theo đó: * Quan niệm về trẻ em dưới góc độ ngành tâm lý học Giai đoạn thứ nhất, độ tuổi từ 0 đến 3 tuổi: Trẻ em được đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần, quan trọng nhất là tình cảm của người mẹ, bắt đầu biết đi để thăm dò thế giới xung quanh, hình thành tự chủ trong tiếp xúc đồ vật. Giai đoạn thứ ba, độ tuổi từ 3 đến 6 tuổi: Trẻ em biết nói thành câu cụ thể, thích tham gia vào hoạt động trò chơi, muốn đòi hỏi, biết hỏi tại sao, muốn tự đưa ra ý kiến cá nhân, đã hình thành được cá tính bản thân qua việc biểu hiện qua nét mặt và hành động, những tình cảm hồn nhiên như thích, yêu, ghét, giận dỗi cũng bộc lộ rõ ràng, chứng tỏ tâm lý có sự đa dạng hơn so với độ tuổi giai đoạn trước. Giai đoạn thứ tư, độ tuổi từ 6 đến 12 tuổi: Đây là độ tuổi trẻ em phải tới trường để học tập trung với bạn bè đồng trang lứa, là bước ngoặt quan trọng của cuộc đời trẻ, là giai đoạn rất quan trọng.
Vào những năm cuối của độ tuổi trong giai đoạn này, nhân cách và hành vi của trẻ phải tuân theo những quy tắc xã hội mới cùng những giá trị bản thân đã chấp nhận khi sống ở nhà. Từ quan hệ gia đình chuyển sang mối quan hệ xã hội như là quan hệ thầy, cô, bạn bè, môi trường giáo dục giai đoạn này là nền tảng cơ bản cho phát triển của trẻ về sau. Giai đoạn thứ năm, độ tuổi từ 12 đến 18 tuổi: Trẻ em sẵn sàng hành động như người trưởng thành, có thiên hướng chống đối nếu gia đình bắt mình làm những 9 việc đi ngược lại với tư duy và mong muốn của bản thân và đa dạng trong ưu tiên các mối quan hệ xã hội. Năm 16 tuổi trở ra, nhân cách đã được hình thành ổn định và cũng là độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự.
Tuổi 18 là năm kết thúc giai đoạn phát triển của trẻ và mở ra giai đoạn phát triển của người trưởng thành. Ở độ tuổi này đã có sự phát triển toàn diện về trí tuệ, thể xác, tinh thần và đã làm chủ được tư duy nhận thức để tự bản thân làm chủ được những hành vi đúng đắn, phù hợp với thuần phong mỹ tục, đạo đức và luật pháp. * Dưới góc độ ngành luật Định nghĩa thứ nhất: Công ước của Liên hợp quốc năm 1989 về trẻ em, Điều 1 cho rằng“trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi”. Định nghĩa thứ hai: Luật Trẻ em năm 2016 sửa đổi bổ sung năm 2018, Điều 1 cho rằng “trẻ em là người dưới 16 tuổi”.
Như vậy, dựa vào các định nghĩa nêu trên, dù là pháp luật quốc tế hay pháp luật Việt Nam, thì khái niệm về trẻ em đều gắn với một mốc kết thúc độ tuổi chính xác là dưới 16 hoặc 18 tuổi, sau mốc này thì khởi đầu cho tuổi trưởng thành. * Định nghĩa về quyền trẻ em dưới góc độ pháp lý quốc gia Xét về bản chất, trẻ em là con người và bản chất của quyền trẻ em là việc Nhà nước đem các quyền đó cụ thể hóa trong luật để phù hợp nhu cầu sống, đặc điểm và bản chất phát triển của trẻ. Trong luật pháp quốc gia, khi đề cập đến quyền và nghĩa vụ của một cá nhân, thuật ngữ công dân thường bao gồm cả người thành niên và trẻ em. Vì vậy, ngoại trừ một số quyền như quyền được kết hôn, quyền được bầu cử, quyền ứng cử và một số quyền khác vì trẻ em còn hạn chế về năng lực hành vi thì trẻ em có những quyền tương tự như người trưởng thành, việc ngoại trừ này là để vừa bảo đảm cho mục đích phát triển toàn diện của trẻ nhưng cũng phải tạo sự ổn định cho toàn xã hội.
Vì trẻ em là đối tượng công dân đặc biệt về mọi mặt kể cả thể chất lẫn tinh thần nên đặc điểm nổi bật của quyền trẻ em là các em chưa nhận thức được đầy đủ và chưa chủ động bảo vệ quyền của mình mà chủ yếu dựa vào người lớn. Tổng kết lại, quyền của trẻ em là những quyền cần thiết và tự do cơ bản được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo pháp luật mà tất cả trẻ em đều được 10 hưởng, để trẻ em được sống và phát triển, không phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo, quốc tịch, địa vị xã hội hay bất kỳ yếu tố nào khác. Quan niệm về quyền học tập của trẻ em Khái niệm quyền được học tập của trẻ em được thể hiện trong các văn bản pháp lý quốc tế và quốc gia. Trẻ em được hưởng các quyền liên quan tới học tập, có trong các quy định pháp luật.
Một số văn bản pháp lý như Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (CRC) năm 1989 đưa ra quan niệm bao quát hơn cho quyền trẻ em, coi quyền được học tập của trẻ em là quyền cá nhân của con người và là mắt xích không thể thiếu để thực hiện các quyền con người liên quan khác. Điều 26 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) năm 1948 quan niệm: Mọi người (bao gồm đối tượng trẻ em) đều được bảo đảm quyền học tập và giáo dục của bản thân. Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước thể hiện ra quan niệm, tư tưởng về quyền học tập giáo dục của trẻ em qua chủ trương trong văn kiện của các kỳ đại hội. Đại hội XIII của Đảng đưa ra chủ trương hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân trước hết bằng cách chú trọng vào cấp mầm non, tiểu học, tạo tiền đề và bảo đảm cơ hội thuận lợi tối đa để mỗi công dân có điều kiện được thụ hưởng công bằng thành quả của nền giáo dục, xây dựng và triển khai miễn phí đào tạo giáo dục học tập cho trẻ em thuộc cấp tiểu học và trung học cơ sở, quan tâm ưu ái hơn nữa với chính sách giáo dục ở những nơi có điều kiện khó khăn như miền núi, vùng cao, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Nhà nước quan niệm cần phải luôn quan tâm đến quyền được học tập của trẻ em, xây dựng chủ trương, chính sách pháp luật phù hợp với tình hình thực tế để tạo điều kiện cho trẻ em trong cả nước được phát triển thuận lợi về mặt thể chất lẫn tinh thần. Khoản 1 Điều 37 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em” [15]. Như vậy, trẻ em là những công dân nhỏ tuổi của đất nước, cần phải được hưởng và bảo đảm đầy đủ quyền học tập và có nghĩa vụ học tập hết chương trình mà Nhà nước quy định. 11 Bản chất của quyền trẻ em trong lĩnh vực học tập ở Việt Nam đã thể hiện được tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, Khoản 1 Điều 13 Luật Giáo dục năm 2019 đã quy định rõ: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân.
Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập”, Điều 16 Luật Trẻ em năm 2016 quy định rằng "Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân." Như vậy thông qua một số quan niệm trên có thể hiểu quyền học tập của trẻ em là quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của người dưới mười sáu hoặc dưới mười tám tuổi được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Bất kì trẻ em dưới mười sáu tuổi, là công dân Việt Nam đều có quyền được đi học đúng độ tuổi, có quyền tham gia học đầy đủ các chương trình giáo dục của Nhà nước, quyền này được Nhà nước công nhận và bảo đảm thực hiện. Mọi hành vi ngăn cấm việc trẻ em không được thực hiện quyền được học tập một cách chính đáng đều là hành vi đi ngược lại lợi ích, sự phát triển một cách bình thường của trẻ. Những vấn đề chung về bảo đảm quyền học tập của trẻ em 1.
Khái niệm, đặc điểm về bảo đảm quyền học tập của trẻ em * Khái niệm bảo đảm quyền học tập của trẻ em Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng như các văn bản liên quan chưa đưa ra định nghĩa thế nào là “bảo đảm”. Tuy nhiên, qua nội hàm từ ngữ cũng như các quy định pháp luật, có thể hiểu rằng: "bảo đảm" là những cách thức thực hiện, phương thức tiến hành, giải pháp cải thiện nhằm hỗ trợ, khẳng định, bảo đảm cho việc nào đó được thực hiện một cách chắc chắn trên thực tế. Khái niệm “bảo đảm quyền” có thể được sử dụng để chỉ các hoạt động nhằm hiện thực hóa các quyền được ghi nhận trong hệ thống pháp luật hoặc để chỉ các hoạt động nhằm tạo ra các tiền đề, điều kiện cho các quyền được thực hiện trong thực tế hay các hoạt động tổ chức thực hiện các quyền. Khái niệm “bảo đảm quyền” có nội hàm rộng lớn, chú trọng các biện pháp bảo đảm về mặt pháp lý và cơ chế xử phạt để khi “quyền” của chủ thể này bị các 12 chủ thể khác xâm phạm thì cần có giải pháp nhằm khôi phục lại các quyền đã bị xâm phạm, quan trọng nhất là các hoạt động tạo tiền đề và các điều kiện đi kèm để có thể hiện thực hóa quyền trong thực tế.
Việc bảo đảm quyền con người đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể trong đó nhà nước và các cơ quan đại diện cho nhà nước có vai trò trọng yếu nhất trong việc bảo đảm quyền con người trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mình. Tổng kết lại, bảo đảm quyền học tập của trẻ em là việc tạo ra các tiền đề, điều kiện về pháp lý, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tổ chức để trẻ em được hưởng quyền học tập và các chủ thể có trách nhiệm liên quan thực hiện được quyền, nghĩa vụ trong bảo đảm quyền được học tập của trẻ em.