Chương 1 Một số kết quả kinh điển về bài toán phân hoạch số nguyên dương Mục đích của chương này là trình bày lịch sử phát triển và một số kết quả kinh điển về bài toán phân hoạch số nguyên dương. Tài liệu tham khảo chính của Chương là [3], [4] .1 Lịch sử phát triển của bài toán phân hoạch số nguyên dương Phân hoạch lần đầu tiên xuất hiện trong bức thư tay của Leibnitz viết vào năm 1669 gửi cho John Bernoulli, ông hỏi Bernoulli liệu có kiểm tra nhanh được số cách viết một số nguyên dương đã cho thành tổng của hai hay nhiều số nguyên? Từ đây lý thuyết phân hoạch được hình thành và là một nhánh quan trọng của lý thuyết số. Khái niệm phân hoạch các số nguyên không âm cũng thuộc về toán học tổ hợp (xem [4]). Một phép phân hoạch của số nguyên dương n là một dãy không tăng hữu hạn của các số nguyên dương λ1 > λ2 >.
> λr sao cho ri=1 λi = n, λi được gọi là các phần hoặc các số hạng của phân P hoạch. Đôi khi phân hoạch (λ1 , λ2 ,. , λr ) được kí hiệu bởi λ và ta viết là λ ` n hoặc | λ |= n. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Định nghĩa 1.
Hàm phân hoạch p(n) là số các phân hoạch của n. Khi xét phép phân hoạch của n có một số chú ý sau (xem [4]): Chú ý 1. Chúng ta thấy 0 có một phân hoạch, phân hoạch rỗng, nó không có phần tử nào. Ta quy ước p(0) = 1.
Thường viết tắt phần lặp bằng cách sử dụng lũy thừa. Theo định nghĩa phân hoạch thứ tự không quan trọng. 4+3 và 3+4 đều là một phân hoạch của 7. Một tập hợp có thứ tự được gọi là một phép hợp thành.
Do đó, 4+3 và 3+4 là hai phép hợp thành khác nhau của 7. Có năm phân hoạch của số 4 là 4, 31, 22 , 212 , 14. Có bảy phân hoạch của số 5 là 5, 41, 32, 312 , 22 1, 213 , 15. Leibnitz quan sát có 3 phân hoạch của 3 (3, 21, 13 ), 5 phân hoạch của 4.
Sau đó ông cũng quan sát được có 7 phân hoạch của 5 và 11 phân hoạch của 6. Điều này gợi ý, số phân hoạch của n bất kỳ luôn là một số nguyên tố. Tuy nhiên, điều này không đúng khi tính toán được 15 phân hoạch của 7. Như vậy ngay từ những bước khởi đầu, bài toán phân hoạch đã dẫn đến câu hỏi mở mà đến tận ngày hôm nay vẫn chưa có lời giải: tồn tại vô hạn hay hữu hạn n sao cho số phân hoạch n là một số nguyên tố? Bên cạnh đó là những câu hỏi về p(n) như: cấp tăng của nó như thế nào? Tính chẵn lẻ của nó? Liệu nó có những tính chất số học đặc biệt nào? Có cách nào để tính p(n) hiệu quả không?(xem [3]).
Từ đây thiết lập những chủ đề khác nhau và lý thuyết phân hoạch được phát triển xa hơn bởi nhiều nhà Toán học vĩ đại, nổi bật trong số họ là Euler, Gauss, Jacobi, Cayley, Sylvester, Hardy, Ramanujan, Rademacher, Schur, Mac Mahon, Gupta, Gordon, Andrews, Stanley. Công việc nghiên cứu của Ramanujan cùng Hardy thực sự cách mạng hóa việc nghiên cứu về thuyết phân hoạch. Bởi những ứng dụng vĩ đại của nó trong các lĩnh vực khác nhau như xác suất thống kê, vật lý cơ học. lý thuyết phân hoạch trở thành lĩnh vực nghiên cứu sôi nổi của lý thuyết số.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Có thể thấy p(n) tăng rất nhanh theo n. Thậm chí, nếu một người nào đó có thể tập trung làm việc một cách hoàn hảo thì cũng phải mất 126000 năm để viết tất cả 3972999029388 phân hoạch của 200. Ramanujan đã tự hỏi mình một câu hỏi cơ bản: Chúng ta có thể tìm p(n) mà không cần viết tất cả các phân hoạch của n không?” Câu hỏi này đã được Hardy và Ramanujan trả lời vào năm 1918. Họ đã đưa ra công thức gần đúng cho p(n).Lehmer nhận thấy chuỗi Hardy – Ramanujan phân kỳ.
Rademacher thay thế điều kiện để nhận được p(n) là chuỗi hội tụ. Hardy – Ramanujan – Rademacher lập ra công thức mở rộng cho p(n) nổi tiếng, đó là kết quả đáng ghi nhận nhất trong toán học. Nó cho thấy sự tương tác giữa một hàm số học p(n) và một số kỹ thuật tính toán. Nó không chỉ là công thức lý thuyết cho p(n) mà còn là công thức cho phép tính tương đối nhanh (xem [4]– Tr 6).
Một số giá trị của p(n) n : 1 2 3 4 5 6 9 20 50 100 200 p(n) : 1 2 3 5 7 11 30 627 204226 190569292 3972999029388 Nhiều khi chúng ta chỉ cần quan tâm đến những bài toán không nhất thiết phải xét đến tất cả các phân hoạch của n mà chỉ các phân hoạch đặc biệt nào đó của n. Trong số 22 phân hoạch của số 8, chỉ có sáu phân hoạch chứa các phần là số lẻ 71, 53, 513 , 32 12 , 315 , 18 và cũng có 6 phân hoạch trong đó các phần tử phân biệt 8, 71, 62, 53, 521, 431. Về vấn đề này đã được Euler bắt đầu nghiên cứu vào năm 1674.Naudé hỏi Euler về phân hoạch một số nguyên dương n thành m phần nhất định. Đặc biệt, Naudé đã hỏi ông có bao nhiêu phân hoạch của 50 thành 7 phần riêng biệt.
Câu trả lời đúng là 522, điều này khó có khả năng thu được bằng cách viết ra tất cả các phân hoạch của 50 thành 7 phần. Để giải quyết vấn đề này Euler đã khám phá và giới thiệu hàm sinh của hàm phân hoạch, các đồng nhất thức, định lí số ngũ giác, đó là sự đổi mới quan trọng nhất trong toàn bộ nghiên cứu về phân hoạch. Hầu hết mọi phát hiện về phân hoạch đều nhờ vào sự bắt đầu của Euler (xem [3]). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Từ cuối thế kỉ XVIII cho tới nửa đầu thế kỉ XIX không xuất hiện nhiều bước tiến đáng ghi nhận trong nghiên cứu về phân hoạch.
Tất nhiên điều tương tự không xảy ra với toán học nói chung. Đã có sự xuất hiện những nghiên cứu về lý thuyết biến phức và lý thuyết của hàm eliptic và chúng đã mang lại ảnh hưởng sâu sắc tới nghiên cứu về phân hoạch. Legendre, Gausse, Cauchy và những nhà toán học vĩ đại khác đã tìm ra được lời giải thích cho công trình của Euler. Trong một thế kỷ từ năm 1750 – 1850, trọng tâm chính của việc nghiên cứu là đưa ra công thức tường minh cho pm (n), số phân hoạch n thành các phần không lớn hơn m.
Warburton, Cayley, Sylvester.đã nghiên cứu pm (n) với những giá trị nhỏ xác định của m và họ đưa ra được một số công thức nhất định. Tuy nhiên, Sylvester mới là nhà toán học tiếp theo đưa ra được cái nhìn thực sự mới cho vấn đề này(xem [3]– Tr 5). Sau khi xem xét một vài cách mà phân hoạch thực sự có thể được đưa ra dưới dạng hình học, ông khẳng định rằng phân hoạch 5 + 5 + 4 + 3 + 3 có thể được biểu diễn thuận tiện hơn nhiều dưới dạng: ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ Sylvester gọi cách biểu diễn này là biểu đồ Ferrers của phân hoạch, đặt tên theo nhà toán học N. Ông đã chú ý rằng ta có thể đếm số nút ở các cột thay vì các hàng.
Lấy ví dụ như biểu đồ ở trên có thể cho ta phân hoạch 5 + 5 + 5 + 3 + 2. Hai phân hoạch từ cùng một biểu đồ như trên được gọi là liên hợp. Phân hoạch n là tự liên hợp nếu liên hợp của nó trùng với chính nó. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phân hoạch 7+6+4+4+2+2+1 của 26 ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ ∗ Như vậy, Sylvester khẳng định một cách tiếp cận hoàn toàn mới đối với phân hoạch. Cách chứng minh của Fabian Franklin cho định lý số ngũ giác của Euler sẽ cho ta biết về giá trị của lối suy nghĩ mới này. Franklin từng là một học trò của Sylvester tại trường đại học John Hopkins và chứng minh của Franklin đã lột tả được sức mạnh trong ý tưởng của Sylvester. Hans Rademacher cho rằng nghiên cứu của Franklin là những thành tựu có ý nghĩa đầu tiên của toán học Mỹ.
Nó có thể được xem như là điểm khởi đầu của một loạt những nghiên cứu sâu sắc về phân hoạch. Phân hoạch được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau. MacMahon đã nghiên cứu những dạng khác nhau của phân hoạch và ông là người đầu tiên nghiên cứu về phân hoạch phẳng. Một phân hoạch phẳng π của n là một ma P trận các số dương, không tăng theo mỗi dòng, mỗi cột và ni,j = n.
Mỗi ni,j là một bộ phận của π. Các phân hoạch phẳng của 3 1 1 1 1 , 1 1 , 1 , 2 1 , 2 , 3 1 1 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Phân hoạch phẳng được gọi là đối xứng nếu ni,j = nj,i với mọi i, j. Phân hoạch phẳng của 18 6 4 1 4 2 1 Nếu các phần của π giảm chặt theo mỗi hàng thì ta nói rằng π là nghiêm ngặt hàng. Nếu các phần của π là giảm chặt mỗi cột thì ta gọi π là nghiêm ngặt cột.
Nếu π vừa nghiêm ngặt hàng, vừa nghiêm ngặt cột thì ta gọi π là nghiêm ngặt hàng và cột. Phân hoạch nghiêm ngặt cột cũng giống như bảng Young được sử dụng trong lý thuyết bất biến. Phân hoạch phẳng được ứng dụng trong phép biểu diễn lý thuyết nhóm đối xứng, hình học đại số và trong nhiều vấn đề tổ hợp. Phân hoạch phẳng cùng với nhiều nhất k dòng được gọi là phân hoạch k -dòng.
Ký hiệu tk (n) là số phân hoạch k dòng của n. Phân hoạch phẳng là lĩnh vực được nghiên cứu tích cực. Tuy nhiên ở đây chúng ta chỉ nói đến đồng dư Ramanujan tk (n). F– Phân hoạch:(xem [4]) Một phân hoạch Frobenius suy rộng (một F – phân hoạch) của n là một ma trận 2 hàng các số nguyên ! a1 , a2 ,.
> br > 0 sao cho n = r + ri=1 ai + ri=1 bi. Cho n = 3, với giá trị tương ứng r = 1, 1, 1, 2, 2 và cho phép lặp tối đa 2 lần ở bất kì hàng nào thì các F – phân hoạch ! ! ! ! !