CHƯƠNG 1. NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về phân loại vóc dáng nữ giới Nhân trắc học – là bộ môn khoa học nghiên cứu kích thước con người xuất phát từ tiếng Hy Lạp, “nhân” có nghĩa là người, “trắc” có nghĩa là đo lường. Như vậy, nhân trắc học là khoa học về các phương pháp đo trên cơ thể người và sử dụng toán học để phân tích những kết quả đo được nhằm tìm hiểu quy luật về sự phát triển hình thái con người đồng thời vận dụng các quy luật đó vào việc giải quyết những yêu cầu thực tiễn của khoa học, kỹ thuật, sản xuất và đời sống [1]. Cho đến ngày nay, nhân trắc học không chỉ là ngành khoa học mà còn ứng dụng, phục vụ cho nhiều ngành khoa học khác nhau từ thời trang, kiến trúc, xây dựng, thiết kế nội thất… cho đến y học [1].
Trong y tế, việc phân loại vóc dáng giúp điều tra đánh giá sự phát triển về cơ thể học, thể lực trong tuyển quân, tuyển sinh, vận động viên, thể dục thể thao. Trong các ngành kinh tế quốc dân, phân loại vóc dáng giúp xây dựng các tiêu chuẩn về kích thước người để thiết kế máy móc, thiết bị như ma nơ canh, nhà cửa, ô tô, quần áo, giày dép. phù hợp với công thái học. Ngoài ra, về mặt lý luận, nhân trắc học còn cho phép chúng ta đề ra các quy luật về sự phát triển cơ thể người, các nhóm chủng tộc và tìm hiểu nguồn gốc loài người [2].
Trong quá nghiên cứu cơ thể người, các nhà khoa học đã cho thấy sự phát triển của cơ thể không phải hoàn toàn đều đặn về tỷ lệ các phần trên cơ thể theo thời gian [2]. Các đặc điểm hình thái cơ thể thay đổi theo không gian, hoàn cảnh địa lý, chủng tộc. Ngay cả cùng một chủng tộc, cùng một dòng họ, thậm chí giữa từng người một, người ta còn nhận thấy sự khác biệt của các đặc điểm và tỷ lệ các phần cơ thể này [2]. Theo quy luật sinh học nói chung, cứ khoảng 10-15 năm, do những điều kiện sống thay đổi, tầm vóc, thể lực của cư dân cũng có những biến đổi và thường tăng 1,5-2 cm [3].
Riêng trong lĩnh vực thiết kế trang phục, vóc dáng có tầm quan trọng rất lớn đến việc phác thảo mẫu phù hợp, lựa chọn chất liệu, hoạ tiết trang trí, và ảnh hưởng nhiều nhất là phương pháp thiết kế. Với những vóc dáng khác nhau thì công thức thiết kế sẽ khác nhau [4]. Bằng việc phân tích vóc dáng cơ thể người giúp những người thợ may, nhà sản xuất hàng may mặc có thể thiết kế và sản xuất được những bộ trang phục phù hợp với giới tính, độ tuổi và dạng cơ thể. Các công trình nghiên cứu trước đây [4, 5, 6, 7, 8, 9] đã chỉ ra rằng đặc điểm hình dáng cơ thể người mặc có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thiết kế trang phục và tạo dáng quần áo.
Việc phân loại hình dáng cơ thể người giúp nhận biết và có phương pháp điều chỉnh phù hợp khi thiết kế quần áo. Tương tự, trong các tài liệu thiết kế quần áo [1, 10, 11, 12], hình dạng bên ngoài của cơ thể người liên quan rất nhiều với phương pháp thiết kế và tạo dáng quần áo. Có rất nhiều cách phân loại hình dáng cơ thể người. Trong đó, cách phổ biến để phân loại hình dáng cơ thể người chủ yếu là theo kinh nghiệm chủ quan hoặc đánh giá bằng một vài chỉ số tương quan đơn giản [10].1 Phân loại vóc dáng dựa trên các đặc trưng cơ thể Theo tỷ lệ kích thước dài của cơ thể: Theo đặc trưng này, người ta chia hình dáng cơ thể người làm 3 dạng: dạng dài, dạng ngắn và dạng trung bình [1, 11].
- Dạng dài: Được đặc trưng bởi các chi dài và chân ngắn [1, 11]. - Dạng ngắn: Các chi ngắn và thân dài [1, 11]. - Dạng trung bình: Là dạng trung bình giữa dạng dài và dạng ngắn [1, 11]. Theo tư thế của cơ thể: Khi phân loại tư thế cơ thể, người ta căn cứ chủ yếu vào độ cong của cột sống và tương quan giữa viền phía trước và phía sau của cơ thể.
Người ta chia tư thế đứng cơ thể thành 3 dáng: Bình thường, gù và ưỡn [1, 11]. - Dáng gù: Ngực phẳng, lưng dài, rộng và cong, xương bả vai thường nhô cao, cơ bắp kém phát triển, vai và tay đưa về phía trước một chút, điểm đầu ngực (đầu núm vú) bị dịch chuyển xuống dưới. So với người tư thế bình thường, người gù có chiều dài phần lưng phía sau cơ thể lớn hơn nhưng chiều dài phía trước cơ thể lại nhỏ hơn [1, 11]. - Dáng ưỡn: Ngực và vai rộng, nở nang, lưng phẳng hoặc hơi cong một chút về phía sau, bả vai không nhô lên, eo lõm vào, mông phát triển.
Điểm đầu ngực được nâng lên phía trên. So với người có tư thế bình thường, chiều dài phía sau nhỏ hơn nhưng chiều dài phía trước lại lớn hơn [1, 11]. - Dáng bình thường: Cơ thể không thuộc 2 dáng gù và ưỡn như hình 1.1 Phân loại tư thế đứng của cơ thể [11] a) Dáng người bình thường b) Dáng người gù c) Dáng người ưỡn 16 Theo mức độ béo gầy (chiều dày cơ thể): Mức độ béo, gầy của cơ thể người thường được chia làm 3 dạng: béo, trung bình và gầy. Để phân loại mức độ béo, gầy, có 2 cách theo bảng sau [11]: Bảng 1-1 Phân loại cơ thể người theo mức độ béo gầy P = 0.9 (T – 100) Trọng lượng cơ thể tính theo đơn vị là kg (P), chiếm 90% Theo tương quan giữa hiệu số của chiều cao đứng tính theo đơn vị là cm (T) và chiều cao đứng và cân 100.
Công thức này áp dụng cho người bình thường, còn nặng nếu trọng lượng ít hơn thì đó là người gầy và ngược lại [11]. Chỉ số Lorentz = Vn - Vb Chỉ số trung bình của người châu Âu là 14, người Việt Theo tương quan giữa Nam là 9 – 11. Nếu hiệu của hai kích thước này bằng chỉ chu vi vòng ngực lớn số trung bình thì đó là cơ thể bình thường, nếu lớn hơn nhất và vòng bụng chỉ số trung bình thì đó là cơ thể gầy và ngược lại, nếu nhỏ hơn chỉ số trung bình thì đó là cơ thể béo [11]. Theo thể chất: Theo thể chất, cơ thể được chia làm 4 nhóm: - Người ngực lép: Lồng ngực phẳng, người hơi còng, ít mỡ, cơ bắp ít phát triển, bụng lép [1,10].
- Người cơ bắp: Hệ cơ phát triển, lồng ngực hình trụ, lưng thẳng, hơi cong, mỡ vừa phải [1,10]. - Người bụng phệ: Lồng ngực trên nhỏ, bụng to, lớp mỡ dày phần bụng, lưng thẳng hơi gù, cơ bắp nhão [1,10]. - Người trung bình: Là trung gian giữa 3 dạng người trên [1,10]. Theo hình dáng các phần trên cơ thể: Vai [1, 11]: Căn cứ vào độ dốc của đường vai cơ thể, người ta chia thành 3 dạng vai: Vai xuôi, vai trung bình và vai ngang.
- Để nhận biết độ dốc của vai, người ta thường dùng giá trị độ lệch chiều cao của điểm góc cổ vai và điểm mỏm cùng vai (lượng xuôi vai - Xv). Người vai trung bình có Xv = 4,2 – 4,8 cm đối với nữ và Xv = 5,2 – 5,8 cm đối với nam. - Nếu người có giá trị Xv lớn hơn giá trị trung bình thì đó là người vai xuôi, ngược lại là người vai ngang. Căn cứ độ vươn về phía trước của đường vai, người ta chia thành 3 dáng vai: Vai bình thường, vai cánh cung và vai ngửa.
- Người vai cánh cung thường có hai đầu vai khum về phía trước nhiều hơn, phía sau bả vai độ cong lớn, phía trước ngực phẳng, số đo rộng lưng lớn hơn và số đo rộng ngực nhỏ hơn người bình thường. 17 - Người vai ngửa có hai đầu vai đưa về phía sau nhiều hơn, lưng gần như phẳng, số đo rộng lưng nhỏ hơn và số đo rộng ngực lớn hơn bình thường. Ngực [1,11] Khi quan sát lồng ngực ở mặt chính diện: Có thể chia hình dáng của lồng ngực làm 3 loại: Lồng ngực tròn, trung bình và dẹt. Trong thực tế ba loại này thường tương ứng với cơ thể béo, trung bình và gầy.
Khi quan sát ở mặt chiếu cạnh: Phần bầu ngực của cơ thể nữ giới được phân ra làm 3 dạng: Dạng bán cầu (cơ thể trung bình), dạng ovan (cơ thể béo) và dạng hình chóp (cơ thể gầy). Hông [1,11] Theo vị trí của điểm nhô ra ngoài nhất của hông khi nhìn chính diện, người ta chia thành: Hông cao, hông trung bình và hông thấp. Trong đó, cơ thể có vị trí điểm nhô ra ngoài nhất của hông nằm ở vị trí ngang rốn và ngang háng – hông trung bình. Nếu vị trí điểm nhô ra ngoài nhất của hông ở vị trí ngang rốn – hông cao và vị trí ngang háng – hông thấp.
Chân [1, 11]: Căn cứ vào hướng đùi và cẳng chân, chia thành 3 nhóm: - Chân thẳng - Chân vòng kiềng (chân chữ O) - Chân khoèo (chân chữ X) Theo tư thế của bàn chân so với đùi và cẳng chân khi chuyển động, người ta chia thành: - Chân bình thường - Chân chữ bát ngoài - Chân chữ bát trong 1.2 Phân loại vóc dáng theo BMI BMI (Body Mass Index): chỉ số khối lượng cơ thể là chỉ số dùng để đo mức độ gầy hay béo của một người, lấy số đo chiều cao và cân nặng để tính theo công thức như sau [13]: େ୬୬୬ሺ୩ሻ BMI = େ୦୧୳ୡୟ୭୶େ୦୧୳ୡୟ୭ሺ୫ሻ Trong đó: BMI < 16.5: người thiếu cân nặng BMI < 18.5: người thiếu cân (dáng người 1,2). 18 ≤ BMI < 23: người bình thường (dáng người 3,4). 23 ≤ BMI < 30: người quá cân (dáng người 5). BMI > 30: người béo phì (dáng người 6,7,8,9).2 Các loại vóc dáng xếp theo thứ tự chỉ số BMI tăng dần (WHO) [67] Dựa vào thang phân loại của IDI & WPRO (Hiệp hội đái đường các nước Châu Á) dành cho người Châu Á thì BMI lý tưởng của người Việt Nam là từ 18.
Trong đó: Bình thường: 18,5 – 22,9 Thừa cân: ≥ 23 Tiền béo phì: 23 – 24,9 Béo phì độ I: 25 – 29,9 Béo phì độ II: ≥ 30 1.3 Phân loại cơ thể người thông qua các chỉ số tương quan khác Các chỉ số tương quan khác được các nước sử dụng để phân loại cơ thể người được trình bày tóm tắt trong bảng sau: Bảng 1-2 Phân loại cơ thể người thông qua các chỉ số tương quan େ୦୧୳ୡୟ୭୬ዏ୧ Chỉ số thân = x 100 (%) େ୦୧୳ୡୟ୭¯ዜ୬ - Chỉ số thân dưới 50,9 là người có thân ngắn, chân dài. Đây là dạng người dài.