Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tại Việt Nam, nguồn tài nguyên cát tự nhiên phục vụ cho ngành xây dựng nói chung và sản xuất bê tông khí chưng áp (Autoclaved Aerated Concrete - AAC) nói riêng đang đối mặt với tình trạng cạn kiệt nghiêm trọng, dẫn đến giá thành nguyên liệu tăng cao và các quy định hạn chế khai thác ngày càng siết chặt. Bê tông khí chưng áp là vật liệu xây dựng xốp nhẹ có nhiều ưu điểm cơ lý như tỷ trọng thấp, khả năng cách âm, cách nhiệt tốt, độ co ngót thấp và tốc độ thi công nhanh so với bê tông thông thường. Tuy nhiên, các dây chuyền sản xuất AAC trong nước vẫn tạo ra tỷ lệ phế phẩm tương đối cao, gây lãng phí diện tích kho bãi và ảnh hưởng đến mỹ quan công nghiệp.

Song song với đó, hệ thống các nhà máy nhiệt điện đốt than thải ra khối lượng tro xỉ khổng lồ (chiếm 30% đến 35% lượng than sử dụng, trong đó tro bay chiếm khoảng 80%). Lượng tro bay này nếu không được tiêu thụ sẽ gây áp lực lớn lên các bãi thải xỉ và tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường. Về mặt hóa lý, tro bay là một loại phụ gia khoáng pozzolan nhân tạo chứa hàm lượng lớn silic đioxit ($SiO_2$) và nhôm oxit ($Al_2O_3$) ở trạng thái vô định hình, có khả năng phản ứng với canxi hydroxit để tạo ra các hợp chất thủy hóa bền vững. Do đó, việc nghiên cứu tận dụng tro bay để thay thế một phần cát tự nhiên trong sản xuất gạch AAC mang tính cấp thiết kỹ thuật và kinh tế rõ rệt.

Mục tiêu tổng quát của đề tài là khảo sát sự ảnh hưởng của tro bay khi thay thế một phần cát đến các tính chất cơ lý và cấu trúc vi mô của bê tông khí chưng áp. Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Khảo sát các chỉ tiêu kỹ thuật của nguyên liệu đầu vào sử dụng trong chế tạo mẫu AAC;
  2. Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ tro bay thay thế cát đến khối lượng thể tích khô của mẫu;
  3. Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ tro bay thay thế cát đến các tính chất của AAC, bao gồm cường độ nén và đặc trưng cấu trúc thông qua các phép phân tích quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT-IR), nhiễu xạ tia X (XRD) và kính hiển vi điện tử quét (SEM).

Đối tượng nghiên cứu là hệ hỗn hợp bê tông khí chưng áp được tạo thành từ các nguyên liệu: cát tự nhiên, xi măng poóc lăng hỗn hợp Long Sơn PCB40, tro bay nhiệt điện, vôi canxi sống, thạch cao, bột nhôm và nước. Phạm vi nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào việc thay thế cát bằng tro bay theo 5 tỷ lệ cấp phối: 0% (mẫu đối chứng), 5%, 10%, 15% và 20% theo khối lượng. Quá trình thực nghiệm được triển khai tại Phòng thí nghiệm Vô cơ thuộc Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh và Nhà máy sản xuất của Công ty Cổ phần Gạch khối Tân Kỷ Nguyên (Khu công nghiệp Thịnh Phát, Bến Lức, Long An) trong khoảng thời gian từ ngày 20/11/2021 đến ngày 02/08/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài dựa trên nhiệt động lực học và hóa học tinh thể của hệ ba cấu tử $CaO - SiO_2 - H_2O$ (C-S-H) dưới điều kiện thủy nhiệt chưng áp nhiệt độ cao (180 - 200°C) và áp suất hơi bão hòa. Trong điều kiện này, các phản ứng giữa vôi tôi, sản phẩm thủy hóa của xi măng và các hạt oxit silic mịn sinh ra các khoáng canxi silicat hydrat kết tinh. Tùy thuộc vào tỷ lệ mol $CaO/SiO_2$ và nhiệt độ phản ứng, các khoáng chất có thể hình thành bao gồm: Tobermorite ($5CaO \cdot 6SiO_2 \cdot 5H_2O$), Xonotlite ($6CaO \cdot 6SiO_2 \cdot H_2O$), Hillebrandite ($2CaO \cdot SiO_2 \cdot 1.17H_2O$), Afwillite ($3CaO \cdot 2SiO_2 \cdot 3H_2O$), Gyrolite ($2CaO \cdot 3SiO_2 \cdot 2.5H_2O$), Okenite và Truscottite. Trong số này, khoáng Tobermorite 11Å dạng tinh thể phiến mỏng là pha khoáng tối ưu nhất, quyết định cường độ chịu lực cao và độ ổn định thể tích lâu dài của bê tông nhẹ.

Về mặt cấu trúc vật lý, AAC được phân loại cấu trúc lỗ rỗng theo nghiên cứu của Alexanderson (1979) và Ayral (1998) thành ba cấp hạt:

  • Lỗ rỗng nhỏ: kích thước dưới 2 µm;
  • Lỗ rỗng trung bình: kích thước từ 2 đến 50 µm;
  • Lỗ rỗng lớn: kích thước trên 50 µm, hình thành từ phản ứng sinh khí hydro giữa bột nhôm và môi trường kiềm: $$2Al + 3Ca(OH)_2 + 6H_2O \rightarrow 3CaO \cdot Al_2O_3 \cdot 6H_2O + 3H_2\uparrow$$

Về tiêu chuẩn pháp lý và phân loại kỹ thuật, đề tài tham chiếu Quyết định số 567/QĐ-TTg ngày 28/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phát triển vật liệu xây không nung, Tiêu chuẩn Hoa Kỳ ASTM C618 (chia tro bay thành loại F và loại C dựa trên tổng hàm lượng $SiO_2 + Al_2O_3 + Fe_2O_3$) và Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 10302:2014 quy định tro bay dùng cho bê tông và vữa xây (phân chia theo tính chất axit/bazơ và 4 nhóm lĩnh vực sử dụng a, b, c, d).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm kết hợp giữa thử nghiệm cơ lý tiêu chuẩn và các kỹ thuật phân tích hóa lý hiện đại:

  • Đánh giá thành phần hạt và hàm lượng bùn, bụi, sét của cát theo TCVN 343:1986;
  • Thử nghiệm thời gian tôi vôi, nhiệt độ tôi và xác định hàm lượng $CaO$ hoạt tính theo TCVN 2231:2016;
  • Thử nghiệm các chỉ tiêu cơ lý của xi măng theo TCVN 2682:2009;
  • Xác định kích thước, sai lệch góc vuông, khối lượng thể tích khô và cường độ nén của mẫu lập phương AAC theo TCVN 9030:2017;
  • Phân tích phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT-IR) để xác định các liên kết dao động phân tử $Si-O$, $Al-O$ và nhóm hydroxit;
  • Phân tích nhiễu xạ tia X (XRD) góc quét $2\theta$ từ 10° đến 70° nhằm nhận diện thành phần pha khoáng tinh thể và đánh giá cường độ đỉnh Tobermorite;
  • Kính hiển vi điện tử quét (SEM) ở độ phóng đại 5.000 lần và 10.000 lần để quan sát cấu trúc vi mô bề mặt bẻ gãy và hình thái tinh thể.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu đo đạc thực nghiệm trực tiếp trên các tổ mẫu thử nghiệm và số liệu thống kê sản lượng tiêu thụ AAC, sản lượng tro xỉ từ các báo cáo chuyên ngành xây dựng tại Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về gạch bê tông khí chưng áp và ứng dụng của tro bay trong lĩnh vực xây dựng

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử phát triển của gạch AAC từ khi được phát minh tại Thụy Điển năm 1924, mở rộng sang châu Âu, châu Mỹ và bắt đầu nhập khẩu vào Việt Nam từ năm 2008. Tác giả tổng hợp năng lực sản xuất AAC trong nước với danh mục 12 nhà máy đã đi vào vận hành (tính đến năm 2014), đạt tổng công suất thiết kế khoảng 1,95 triệu $m^3$/năm, tập trung chủ yếu ở phía Bắc và sử dụng thiết bị nhập khẩu từ Trung Quốc (như Dongyue, Teeyer).

Chỉ tiêu thống kê AAC tại Việt Nam Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014
Tổng công suất thiết kế ($1.000\ m^3$) 700 1.300 1.500 1.950 1.950
Sản lượng thực tế ($1.000\ m^3$) 37 131 165 220 300
Tỷ lệ khai thác công suất thực tế (%) 6,2% 10,9% 11,0% 12,6% 15,4%
Tiêu thụ nội địa ($1.000\ m^3$) 14 92 121 133 191
Xuất khẩu ($1.000\ m^3$) 0 1 70 107 116

Về tro bay, tác giả trình bày đặc tính vật lý (dạng hạt cầu, đường kính 10 - 350 µm, khối lượng riêng khoảng 2,1 $g/cm^3$, diện tích bề mặt riêng 3.000 - 6.000 $cm^2/g$) và phân loại theo TCVN 10302:2014, ASTM C618. Số liệu tiêu thụ than và phát thải tro xỉ tại Việt Nam giai đoạn 2005 - 2020 cho thấy lượng tro bay phát sinh hàng năm lên tới hàng triệu tấn. Chương này cũng phân tích tổng quan các ứng dụng của tro bay trên thế giới và trong nước trong lĩnh vực phụ gia bê tông đầm lăn (thủy điện Sơn La), vật liệu đường sá, sản xuất gạch không nung, nông nghiệp và tổng hợp vật liệu hấp phụ zeolit.

Chương 2: Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết nguồn gốc và yêu cầu kỹ thuật của các phối tử tham gia chế tạo AAC:

  • Xi măng poóc lăng Long Sơn PCB40 đáp ứng TCVN 2682:2009 với độ mịn sót sàng 0,09 mm nhỏ hơn 10%, hàm lượng $SO_3$ không lớn hơn 3,5%;
  • Cát mịn tự nhiên có môđun độ lớn trong khoảng 0,7 đến 2,0; hàm lượng ion $Cl^-$ dưới 0,05%;
  • Thạch cao thiên nhiên ($Gn$) chứa hàm lượng $CaSO_4 \cdot 2H_2O$ đạt trên 70 - 95% nhằm kiểm soát tốc độ đông kết;
  • Vôi canxi sống đóng rắn trong không khí, cung cấp $CaO$ tham gia phản ứng nhiệt dịch;
  • Bột nhôm đóng vai trò chất tạo khí;
  • Nguồn tro bay nhiệt điện thu nhận từ ống khói sau tuyển loại bỏ bớt than dư.

Quy trình chế tạo mẫu bao gồm các bước: chuẩn bị nguyên liệu, định lượng cấp phối (thay thế cát bằng tro bay lần lượt 0%, 5%, 10%, 15%, 20%), trộn ướt hỗn hợp vữa, rót khuôn sinh khí hydro tạo cấu trúc rỗng xốp, cắt mẫu định hình, và đưa vào nồi hấp chưng áp công nghiệp ở điều kiện nhiệt ẩm tiêu chuẩn. Các mẫu sau chưng áp được gia công thành khối lập phương để tiến hành thử nghiệm cơ lý theo TCVN 9030:2017 và lấy bột mẫu phục vụ phân tích phổ FT-IR, XRD và chụp ảnh SEM.

Chương 3: Xử lý kết quả và biện luận

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu đo đạc thực nghiệm từ nguyên liệu đến thành phẩm:

  1. Kết quả kiểm tra nguyên liệu đầu vào: Cát mịn có lượng bùn sét thấp; vôi có thời gian tôi và nhiệt độ tôi đạt yêu cầu sinh nhiệt cho quá trình trương nở bột nhôm; hàm lượng $CaO$ hoạt tính đạt tiêu chuẩn. Tro bay đáp ứng các chỉ tiêu kỹ thuật về độ mịn và hàm lượng mất khi nung (MKN).
  2. Ảnh hưởng đến khối lượng thể tích khô: Khi tăng tỷ lệ tro bay từ 0% đến 20%, khối lượng thể tích khô của các mẫu bê tông khí có xu hướng tăng dần nhẹ (dao động quanh ngưỡng 500 $kg/m^3$).
  3. Ảnh hưởng đến cường độ nén: Mẫu đối chứng 0% tro bay đạt cường độ nén cao nhất. Khi tăng tỷ lệ tro bay thay thế lên 5%, 10%, 15% và 20%, cường độ nén của mẫu thử có xu hướng giảm dần, tuy nhiên mức độ suy giảm không quá lớn và vẫn nằm trong giới hạn cho phép của bê tông nhẹ.
  4. Phân tích quang phổ FT-IR: Phổ của các mẫu ở 5 tỷ lệ thay thế thể hiện đầy đủ các dải hấp thụ đặc trưng của liên kết $Si-O-Si$, $Si-O-Al$ và nhóm liên kết của hợp chất canxi silicat hydrat, chứng minh cấu trúc hóa học cơ bản không bị xáo trộn khi có mặt tro bay.
  5. Phân tích nhiễu xạ XRD: Kết quả phổ XRD ghi nhận đỉnh nhiễu xạ của pha thạch anh ($Quartz$) tự do giảm dần do hàm lượng cát ban đầu giảm và tham gia phản ứng. Các đỉnh đặc trưng của khoáng Tobermorite xuất hiện rõ nét ở tất cả các mẫu, chứng tỏ phản ứng nhiệt dịch tạo khoáng diễn ra thuận lợi. Tác giả lập bảng bán định lượng phần trăm tinh thể Tobermorite và Xonotlite tương ứng với các tỷ lệ cấp phối.
  6. Quan sát vi cấu trúc qua SEM: Ảnh chụp SEM ở độ phóng đại 5.000 và 10.000 lần của mẫu đối chứng (0%) và mẫu 20% tro bay đều thể hiện rõ mạng lưới tinh thể Tobermorite dạng tấm/phiến mỏng lồng ghép vào nhau, bao quanh các vách lỗ rỗng xốp, giải thích bản chất duy trì độ bền của cấu trúc vật liệu.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu rút ra các kết quả định lượng cụ thể từ chuỗi mẫu thực nghiệm:

  • Khối lượng thể tích khô của bê tông khí chưng áp tăng tỷ lệ thuận với hàm lượng tro bay bổ sung (từ 0% đến 20%). Nguyên nhân do tro bay có độ mịn cao, đóng vai trò chèn lấp các vi mao quản trong vách ngăn lỗ rỗng, làm tăng độ đặc của khung xương silicate.
  • Cường độ nén của mẫu bê tông AAC giảm dần khi tăng tỷ lệ tro bay thay thế cát. Tuy nhiên, mức độ sụt giảm cường độ diễn ra từ từ, không có hiện tượng nứt vỡ hay phá hủy cấu trúc đột ngột.
  • Dựa trên tương quan giữa khối lượng thể tích khô và cường độ nén, tỷ lệ tro bay thay thế cát tối ưu được xác định là 10%. Tại tỷ lệ này, sản phẩm đạt được sự cân bằng giữa tính năng cơ lý nhẹ và độ bền chịu nén theo yêu cầu kỹ thuật.
  • Phân tích phổ FT-IR, XRD và vi cấu trúc SEM xác nhận rằng việc bổ sung tro bay lên đến 20% không làm biến đổi cơ chế hóa lý chính của quá trình chưng áp: khoáng Tobermorite vẫn là pha tinh thể chủ đạo, tạo nên khung chịu lực bền vững tương tự mẫu sử dụng 100% cát tự nhiên.

Về mặt giải pháp và đóng góp thực tiễn, đề tài chứng minh khả năng thay thế một phần cát xây dựng bằng nguồn tro bay phế thải từ các nhà máy nhiệt điện than trong sản xuất AAC. Kết quả này mở ra giải pháp giảm chi phí mua nguyên liệu cát tự nhiên trong bối cảnh giá cát leo thang, đồng thời góp phần giải quyết bài toán tiêu thụ chất thải rắn công nghiệp và bảo vệ môi trường theo định hướng kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận một số hạn chế nhất định dựa trên điều kiện triển khai và ý kiến đánh giá của hội đồng chuyên môn:

  • Do điều kiện thiết bị của phòng thí nghiệm nhà trường còn hạn chế, phần lớn các khâu tạo hình và công đoạn chưng áp nhiệt ẩm áp suất cao phải thực hiện nhờ trên dây chuyền của nhà máy gạch Tân Kỷ Nguyên, dẫn đến thời gian thực nghiệm phụ thuộc vào lịch sản xuất thực tế.
  • Khóa luận chưa khảo sát được các thông số công nghệ chưng áp quan trọng khác có thể tác động đến chất lượng sản phẩm như: nhiệt độ hấp, áp suất bão hòa, thời gian lưu dưỡng hộ, tỷ lệ nước/chất kết dính và ảnh hưởng của phụ gia trợ phân tán bột nhôm.
  • Phần tổng quan tài liệu trong bản thảo còn thiếu hụt các công trình nghiên cứu cập nhật trong và ngoài nước chuyên sâu về cơ chế tương tác riêng của tro bay trong khối bê tông chưng áp; một số bảng số liệu ở Chương 3 gặp lỗi thiếu hoặc nhầm lẫn ký hiệu đơn vị đo (như ghi nhầm đơn vị khối lượng thể tích $g/cm^3$ thành thay vì $kg/m^3$ ở bảng 3.9).
  • Số liệu cơ lý cần được bổ sung biểu diễn dưới dạng giá trị trung bình kèm theo độ lệch chuẩn ($\bar{X} \pm SD$) để gia tăng mức độ tin cậy thống kê.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:

  • Khảo sát sâu hơn cơ chế động học hình thành pha khoáng Tobermorite khi thay đổi áp suất và thời gian chưng áp đối với phối liệu chứa tro bay;
  • Nghiên cứu các giải pháp xử lý sơ bộ tro bay (như tuyển nổi loại bỏ than dư chưa cháy, nghiền hoạt hóa) nhằm nâng cao tỷ lệ thay thế cát vượt mức 20% mà không làm suy giảm cường độ nén của vật liệu.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Công nghệ Kỹ thuật Hóa học (Hóa vô cơ, Vật liệu Silicate), Công nghệ Vật liệu Xây dựng và Kỹ thuật Môi trường;
  • Cán bộ kỹ thuật, kỹ sư vận hành tại các nhà máy sản xuất gạch bê tông khí chưng áp đang tìm kiếm giải pháp phối liệu thay thế cát tự nhiên bằng tro xỉ nhiệt điện;
  • Phần đáng tham khảo nhất của tài liệu là quy trình thực nghiệm phối trộn cấp phối đa thành phần (cát, xi măng, vôi, thạch cao, bột nhôm, tro bay) và phương pháp tích hợp ba kỹ thuật phân tích hóa lý hiện đại (FT-IR, XRD, SEM) để định danh cấu trúc khoáng canxi silicat hydrat trong điều kiện chưng áp công nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Khối lượng thể tích khô và cường độ nén của mẫu AAC biến thiên như thế nào khi tăng dần tỷ lệ tro bay thay thế cát từ 0% đến 20%?

Số liệu thực nghiệm tại Chương 3 chỉ ra rằng khi tăng tỷ lệ thay thế tro bay từ 0% lên 5%, 10%, 15% và 20%, khối lượng thể tích khô của mẫu có xu hướng tăng dần (quanh mức 500 $kg/m^3$), trong khi cường độ nén trung bình của các mẫu giảm dần so với mẫu đối chứng 0% tro bay. Tuy nhiên, mức độ giảm cường độ nén không quá lớn và vẫn nằm trong giới hạn kiểm soát kỹ thuật của bê tông nhẹ.

2. Tỷ lệ tro bay thay thế cát nào được tác giả và người hướng dẫn kết luận là tối ưu nhất?

Tỷ lệ tro bay thay thế cát tối ưu được xác định là 10%. Ở mức cấp phối này, mẫu AAC đạt sự hài hòa giữa độ xốp nhẹ và khả năng chịu lực, giảm thiểu sự sụt giảm cường độ nén trong khi vẫn tận dụng được lượng tro xỉ đáng kể để hạ giá thành nguyên liệu cát.

3. Vì sao khoáng Tobermorite lại là pha tinh thể quan trọng nhất trong cấu trúc bê tông khí chưng áp?

Dựa trên giản đồ pha hệ ba cấu tử $CaO - SiO_2 - H_2O$ và các khảo sát lý thuyết, Tobermorite ($5CaO \cdot 6SiO_2 \cdot 5H_2O$ dạng 11Å) có cấu trúc vi mô dạng phiến tinh thể đan xen bền vững. Sau thời gian dài chưng hấp và dưỡng hộ, khoáng này giữ được tỷ trọng ổn định, cường độ nén tăng trưởng tốt và không bị biến đổi thoái hóa như một số pha C-S-H kém kết tinh khác hay khoáng Xonotlite (vốn có khả năng lấp đầy không gian kém).

4. Khóa luận sử dụng các phương pháp phân tích cấu trúc hiện đại nào để kiểm chứng chất lượng AAC chứa tro bay?

Tác giả đã sử dụng ba kỹ thuật phân tích bổ trợ nhau:

  • Phổ FT-IR để xác định các liên kết hóa học đặc trưng của khung silicate ngậm nước;
  • Nhiễu xạ tia X (XRD) để định danh các pic tinh thể của pha khoáng Tobermorite, Xonotlite và Thạch anh tự do;
  • Kính hiển vi điện tử quét (SEM) tại độ phóng đại 5.000 và 10.000 lần để quan sát hình thái tinh thể và vách lỗ rỗng.

5. Cán bộ phản biện đã chỉ ra những thiếu sót chuyên môn đáng chú ý nào trong bản thuyết minh của khóa luận?

Người phản biện (TS. Lê Thị Duy Hạnh) đã chỉ ra các điểm cần khắc phục: phần tổng quan Chương 1 thiếu các tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về ứng dụng tro bay trong AAC; Chương 2 trình bày quy trình tiêu chuẩn quá dài thay vì tóm lược nguyên lý; tài liệu tham khảo đặt sai vị trí ở tiêu đề mục; bảng biểu thiếu nguồn trích dẫn; một số bảng ở Chương 3 ghi sai hoặc thiếu đơn vị đo (tiêu biểu là bảng 3.9 ghi nhầm khối lượng thể tích là $g/cm^3$); và số liệu cơ lý chưa biểu diễn kèm độ lệch chuẩn để bảo đảm tính tin cậy thống kê.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Thái Duy Khang đã hoàn thành mục tiêu nghiên cứu ảnh hưởng của việc thay thế một phần cát bằng tro bay nhiệt điện đến tính chất của bê tông khí chưng áp AAC ở các tỷ lệ từ 0% đến 20%. Kết quả thực nghiệm và phân tích vi cấu trúc (FT-IR, XRD, SEM) chứng minh khoáng Tobermorite vẫn hình thành ổn định và tỷ lệ thay thế 10% tro bay mang lại hiệu quả tối ưu nhất về cường độ nén và khối lượng thể tích. Đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm có giá trị ứng dụng cao cho ngành sản xuất vật liệu không nung, hướng tới mục tiêu giảm chi phí cát xây dựng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường do tro xỉ nhiệt điện tại Việt Nam.