Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng của các yếu tố thuộc tam giác gian lận đến sai phạm trọng yếu trên Báo cáo tài chính. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Kết luận và hàm ý chính sách 7. Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu Từ nhiều năm về trƣớc, có rất nhiều nghiên cứu của các học giả, nhà kinh tế học về mối liên hệ giữa sai phạm trọng yếu trên BCTC và các nhân tố ảnh hƣởng. Đặc biệt, kể từ sau nghiên cứu của Donal Cressey (1953) về Tam giác gian lận (Fraud Triangle) đã mở ra một hƣớng mới giúp giải thích đƣợc các hành vi gian lận kinh tế.
Nghiên cứu của Cressey đã kết luận rằng, có nhiều nguyên nhân để một ngƣời thực hiện hành vi gian lận, tuy nhiên, tất cả các nguyên nhân đó đƣợc tổng hợp thành 3 nhóm nhân tố chính là: Áp lực, Cơ hội, Thái độ [15]. Albrecht & Romney (1986) đã sử dụng 87 “dấu hiệu báo động đỏ” (Red Flags) để nghiên cứu về gian lận. Các tác giả đã chỉ ra 1/3 trong số các dấu hiệu trên có ý nghĩa trong tiên đoán gian lận và một số lƣợng lớn các biến 4 khác rất hữu ích trong dự đoán về tính chính trực của Ban giám đốc [10]. Dựa trên kết quả này, Loebbecke và cộng sự (1989) đã tiếp tục phát triển mô hình tiên đoán rủi ro có gian lận và cung cấp các bằng chứng rằng gian lận trên BCTC là hệ quả của các yếu tố áp lực và thái độ [21].
Cũng nghiên cứu về các sai phạm trọng yếu trên BCTC, Person (1995) đã phát hiện ra ảnh hƣởng của các nhân tố đòn bẩy nợ, vòng quay vốn, tỷ lệ hàng tồn kho trên tổng tài sản, những nhân tố này gây ra áp lực cho việc thực hiện hành vi gian lận BCTC [23]. Năm 1996, Beasley đã công bố nghiên cứu về mối quan hệ giữa thành phần Hội đồng quản trị và sai phạm trọng yếu trên BCTC với kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, không những thành phần Hội đồng quản trị có tác động lớn đến hành vi sai phạm BCTC mà còn có quy mô Hội đồng quản trị và số lƣợng thành viên độc lập (các thành viên bên ngoài) trong Hội đồng quản trị có tác động đến sai phạm trọng yếu trên BCTC [13]. Vào năm 2002, dựa trên nghiên cứu về các công ty niêm yết tại Hy Lạp, Spathis đã đƣa ra kết luận các công ty có tỷ lệ hàng tồn kho so với doanh thu cao, đòn bẩy nợ cao, lợi nhuận ròng so với tổng tài sản thấp, tỷ lệ vốn lƣu động thấp và chỉ số Z-score thấp có nhiều khả năng có sai phạm trọng yếu trên BCTC, những con số này thể hiện áp lực về kinh tế đối với công ty, tác động đến khả năng điều chỉnh BCTC một cách cố ý [27]. Hasnan và cộng sự (2008) sử dụng một mẫu đối ứng của 47 công ty có gian lận và 47 công ty không gian lận trong thời gian 1996-2006 nhằm kiểm tra ảnh hƣởng của các yếu tố thái độ trong giao dịch với các bên liên quan, tiền sử của hành vi vi phạm trong quá khứ, thành viên hội đồng sáng lập, cùng với yếu tố áp lực về kinh tế, yếu tố sở hữu, yếu tố chính trị nhƣ sự ƣu đãi và bảo hộ của chính phủ dành cho một số công ty hay một số lĩnh vực và cơ hội trong quản trị doanh nghiệp đến sai phạm trọng yếu trên BCTC.
Kết quả là, liên quan đến các doanh nghiệp có ít giao dịch với bên liên quan, có số hành 5 vi vi phạm trƣớc đó cao hơn, và nhiều ngƣời sáng lập hơn sẽ có khả năng cao hơn trong xảy ra các sai phạm trọng yếu trên BCTC. Họ cũng nhận thấy rằng các công ty không thuộc sở hữu tƣ nhân hoặc sở hữu nƣớc ngoài cũng nhƣ các doanh nghiệp có mức độ khó khăn tài chính cao có áp lực mạnh mẽ để thực hiện các hành vi gian lận gây ra sai phạm trọng yếu. Bên cạnh đó, Hasan và cộng sự đã cho thấy rằng các công ty có cơ cấu quản trị doanh nghiệp yếu kém có nhiều khả năng xảy ra sai phạm trọng yếu trên BCTC [19]. Skousen và cộng sự (2008) đã nghiên cứu ảnh hƣởng của các nhân tố áp lực, cơ hội và thái độ đến sai phạm trọng yếu trên BCTC.
Kết quả cho thấy 5 nhân tố áp lực và hai nhân tố cơ hội ảnh hƣởng đáng kể đến sai phạm trọng yếu trên BCTC. Cụ thể, các công ty có đặc điểm sau đây có nhiều khả năng có sai phạm trọng yếu trên BCTC: tốc độ tăng trƣởng nhanh, sự tăng lên của nhu cầu huy động vốn từ nguồn tài chính bên ngoài, việc nắm giữ nhiều hơn cổ phiếu của cổ đông bên trong so với bên ngoài doanh nghiệp, đặc điểm Hội đồng quản trị (có nhiều thành viên đồng thời nằm trong Ban quản lý của công ty), số lƣợng ít thành viên độc lập trong Ủy ban kiểm toán [25]. Tƣơng tự nhƣ Skousen và cộng sự (2008), Skousen và Wright (2008) đã thực hiện một nghiên cứu trong đó phát triển giả thuyết nghiên cứu dựa trên các nhóm yếu tố nhƣ các áp lực, cơ hội, thái độ (sự biện hộ) với mục đích xác định một cách toàn diện các yếu tố ảnh hƣởng đến sai phạm trọng yếu. Kết quả là tỷ lệ của các thành viên độc lập trong ủy ban kiểm toán độc lập và chủ sở hữu nội bộ (quản lý và giám đốc nắm giữ cổ phiếu của công ty) có quan hệ ngƣợc chiều với khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên BCTC; bên cạnh đó, sự kiêm nhiệm chức danh Giám đốc điều hành và Chủ tịch HĐQT hay tỷ lệ chủ sở hữu đồng thời là các nhà quản lý chủ chốt sở hữu trên 5% cổ phiếu đang lƣu hành có quan hệ thuận chiều với sai phạm trọng yếu trên BCTC.
Từ việc phân tích tỷ lệ chủ sở hữu đồng thời là các nhà quản lý chủ chốt sở hữu trên 5% cổ 6 phiếu đang lƣu hành và chủ sở hữu nội bộ (quản lý và giám đốc nắm giữ cổ phiếu của công ty), Skousen & Wright đã chỉ ra rằng tỷ lệ sở hữu nội bộ là một rào cản tốt hạn chế sai phạm trọng yếu, trừ khi phần sở hữu còn lại của công ty bị khuếch tán bởi nhóm cá nhân. Do đó, tỷ lệ số các nhà quản lý nằm giữ cổ phiếu công ty càng lớn, thì khả năng xảy ra gian lận càng thấp, miễn là cá nhân mỗi nhà quản lý không nắm giữ một phần đáng kể cổ phần của công ty. Nói cách khác, khi phần lớn cổ phiếu đang lƣu hành của một công ty thuộc sở hữu của ban quản lý, sẽ tăng tỷ lệ sai phạm [26]. Tƣơng tự, Lou & Wang (2009) cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc tam giác gian lận và khả năng BCTC có gian lận với mẫu gồm 97 công ty có gian lận đối ứng với 467 công ty không có gian lận ở Đài Loan.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hành vi gian lận có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với các biến (các nhân tố thuộc tam giác gian lận) nhƣ đòn bẩy tài chính, tỷ lệ doanh thu, số lần điều chỉnh BCTC, số lần thay đổi kiểm toán viên, tỷ lệ cổ phiếu của Ban Giám đốc và Hội đồng quản trị bị cầm cố, sai sót trong dự báo của các chuyên gia phân tích tài chính [22]. Amara và cộng sự (2013) thực hiện nghiên cứu dựa trên mẫu gồm 80 công ty của Pháp trong giai đoạn 2001-2009. Các tác giả đã kiểm tra năm biến trong đó có ba biến đƣợc phân loại thuộc yếu tố động cơ/ áp lực (tỷ lệ nợ, tính thanh khoản, tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) và các yếu tố cơ hội (tính độc lập của các thành viên hội đồng quản trị, chất lƣợng của các kiểm toán độc lập bên ngoài). Kết quả chỉ ra rằng chỉ có một trong số năm yếu tố kiểm tra có tác động đáng kể về mặt thống kê đến khả năng xảy ra sai phạm trọng yếu trên BCTC: ROA càng thấp thì khả năng xảy ra sai phạm trọng yếu trên BCTC càng cao [12].
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân (2014) về các nhân tố ảnh hƣởng đến sai phạm trọng yếu đã kế thừa các nghiên cứu trƣớc đây của 7 Lou & Wang (2009), Skousen và cộng sự (2008) đồng thời phân loại các nhân tố theo 3 nhóm Áp lực, Cơ hội, và Thái độ/ sự biện hộ trên mẫu gồm 78 công ty niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán TP. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng có 3 nhân tố thuộc nhóm áp lực là tỷ lệ doanh thu trên nợ phải thu, tỷ trọng hàng tồn kho trên tổng tài sản, đòn cân nợ; với 1 yếu tố thuộc nhóm Cơ hội là quy mô công ty kiểm toán và 2 yếu tố thuộc nhóm Thái độ và sự biện hộ là ý kiến của kiểm toán viên và tiền sử gian lận BCTC có tác động đến hành vi gây ra sai phạm trọng yếu trên BCTC [6]. Ngoài ra nghiên cứu của Nguyễn Trần Nguyên Trân (2014) về sai sót trong Báo cáo tài chính cua các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam đã tổng hợp thực trạng về sai sót trong BCTC đồng thời kế thừa những nghiên cứu của Beneish (1999) để vận dụng vào việc dự đoán khả năng sai sót trong BCTC. Kết quả của nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn 2010 đến 2012, tỷ lệ các công ty có sự thay đổi về lợi nhuận sau kiểm toán so với trƣớc kiểm toán luôn xấp xỉ 50%.
Thông qua áp dụng mô hình Beneish với 30 công ty đƣợc chọn có tỷ lệ phát hiện gian lận là 53. [9] Mặc dù các nghiên cứu trên đã cho thấy nhiều kết quả hữu ích về mối quan hệ giữa các nhân tố với hành vi gây ra sai phạm trọng yếu trên BCTC nhƣng vẫn có một số hạn chế nhất định. Một số tác giả chỉ quan tâm đến một số khía cạnh cụ thể, ví dụ nhƣ các yếu tố về tài chính (áp lực tài chính) đƣợc nghiên cứu bởi Persons (1995), Spathis (2002); hay các yếu tố quản trị doanh nghiệp (cơ hội) nhƣ nghiên cứu của Beasley (1996). Bên cạnh đó, tồn tại một số hạn chế trong các nghiên cứu liên kết các yếu tố thuộc tam giác gian lận (áp lực, cơ hội, và thái độ/ sự biện hộ) với khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu nhƣ Hasnan và cộng sự (2008), Skousen và cộng sự (2008), Skousen và Wright (2008), Lou & Wang (2009) cũng nhƣ Amara và cộng sự (2013).